Chương II. B9 Nguyễn Văn Trấn font Tahoma

Chuong II. B 9- Nguyễn Văn Trấn.(trang 518-550)

Posted on June 23, 2021 by longdien12

      Rate This

9- Nguyễn Văn Trấn

Nguyễn Văn Trấn 1914-1998

Sơ lược tiểu sử Nguyễn Văn Trấn:

(Trong Minh Võ, Phản Tỉnh Phản Kháng: Thực hay Hư,chương 16)

http://baovecovang.wordpress.com/2009/10/17/ph%E1%BA%A3n-t%E1%BB%89nh-ph%E1%BA%A3n-khang-th%E1%BB%B1c-hay-h%C6%B0-ch%C6%B0%C6%A1ng-16/ 

“Nguyễn Văn Trấn tự là Xồi, có tên Nga là Frigorne, Sinh ngày 21-3-1914 tại Chợ Đệm, Long An. Theo học trường Petrus Ký, Saigon cùng lớp với Trần Văn Lắm, cựu ngọai trưởng Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi tốt nghiệp trung học Pháp, ông ra làm báo và theo kháng chiến trong hàng ngũ những người Cộng Sản. Tờ báo đầu tiên của ông là “Le Peuple” (Dân Chúng) ra đời năm 1938. Ngay đầu cuốn sách ông đã khai mình “làm nghề viết báo và dạy học chính trị”. Ông làm báo là báo của đảng, mà những lãnh tụ Cộng Sản đầu tiên như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập đã bảo ông làm, và ông dậy chính trị là chính trị cách mạng, chính trị chống thực dân, phong kiến.

Chính ông là người lãnh đạo cuộc đảo chính cướp chính quyền thành phố Saigon ngày 25-8-1945. Nhưng ông thú nhận rằng ông chẳng làm gì nhiều, chỉ “nhờ cơ hội, điều kiện thuận tiện đó thôi”. Sau này ông là xứ ủy viên rồi phó bí thư Nam bộ (1), giám đốc công an Nam Bộ. Cũng có lúc ông làm bí thư khu 9. Vì có chuyện bất hòa với Lê Đức Thọ nên năm 1951 ông bị điều ra Bắc, “để làm đại biểu đại hội đảng ” (Đại hội II). Trong đại hội đảng ông làm tổ trưởng tổ 1, mệnh danh là tổ Nam bộ hay tổ quốc tế, vì có hai đại biểu của Lào và Kampuchia.

Tại miền Bắc, có thời ông làm giám đốc trường “đại học nhân dân” với chức “người phụ trách’. Ông cũng là đại biểu quốc hội “thứ nhất và duy nhất của vùng Saigon Gia Định”. Nhưng 26 năm ở miền Bắc quyền hạn và ảnh hưởng của ông càng ngày càng giảm sút. Sau 1975 ông trở về Nam sống thanh đạm như một người ngoài cuộc. Người ta thường gọi ông là “ông già Chợ Đệm”, vì Chợ Đệm là quê ông. Ông cũng có viết một cuốn sách nhan đề “Chợ Đệm quê tôi”, với lối văn đặc biệt miền Nam, như văn nói.

Ông cũng là tác giả một cuốn sách về Trương Vĩnh Ký là người mà ông trân trọng chứ không như một số đảng viên Cộng Sản khác cho Truơng Vĩnh Ký là tay sai của Pháp. Cuốn sách về Phan Thanh Giản của ông vừa hoàn thành chưa in thì nhà ông bị “trộm” lấy đi mất cùng với nhiều văn bản và tư liệu khác, trong đó có hàng trăm trang nhật ký của ông. Đó là chưa kể đến một vài cuốn ông viết khi ở miền Bắc như “Những bài nói chuyện về lo-gích”, “xây dựng đội ngũ trí thức mới của chúng ta” hay cuốn “Đóng góp nhỏ vào lịch sử Việt Nam”, đồng tác giả với Bùi Công Trừng.

Khi Nguyễn Hộ chủ trương tờ “Truyền Thống kháng chiến” ông có viết ít bài rất được hoan nghênh, nhưng tiếc rằng chỉ ra đuợc 3 số thì bị đóng cửa. Khi nữ ký giả Kim Hạnh còn coi tờ Tuổi Trẻ và cho ra tờ Tuổi Trẻ Cười, ông có viết cho tờ báo này với bút hiệu Hai Cù Nèo. Thỉnh thoảng ông gửi bài qua Pháp cho tờ Thông Luận đăng với những bút hiệu “Người Saigon, Năm Đòn Gánh, Mứt Gừng…” Ông cũng viết cho tờ báo chui “Người Saigon” ở trong nước.

Sau khi quyển “Viết cho mẹ và quốc hội” ra mắt công chúng rồi thình lình bị thu hồi, Nguyễn Văn Trấn đã bị theo dõi gắt, đôi lần công an có đến “thăm hỏi” và một ngày kia, khi ông đang đi dạo thì bị xe tông suýt chết. Từ đó ông thường năng phải đổi chỗ ở để tránh bị ám sát. Ông mất ngày 1-5-1995 sau khi bị chứng đau ruột kéo dài chỉ hai ngày.

Những điểm “độc hại ” trong “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”:

Theo “nhóm công tác viên” tường trình với Đào Duy Tùng và Đỗ Mười trong bản báo cáo mật về cuốn sách, thì tất cả những điểm “độc hại” đối với đảng trong cuốn sách dầy 544 trang (2) này qui về 4 điểm chính: “

1-  Lên án những sai lầm và tội ác của đảng Cộng Sản VN và bôi nhọ một số cán bộ chủ chốt của đảng.

2- Phản đối việc thống nhất đất nước và đề xuất tư tưởng về liên bang VN, về chính phủ miền Nam.

3- Phản đối việc đàn áp tôn giáo và ca ngợi đạo Ki-Tô và kêu gọi trở về với tôn giáo.

4- Phản đối bóp nghẹt tự do dân chủ, đòi tự do báo chí tuyệt đối, đòi cho ra lại tờ “truyền thống kháng chiến.”

*   Về điểm 1 bản báo cáo nêu ra 8 điều, trong số đó có kể đến những tội ác trong cải cách ruộng đất, chính huấn, và đàn áp trí thức trong vụ án “Nhân Văn – Giai Phẩm”. Chúng tôi chỉ trích dẫn một vài câu của tác giả liên quan đến những vấn đề này.

Trước hết tác giả nói đến báo cáo chính trị do chính Hồ Chí Minh đọc trước đại hội II. Ông trích nguyên văn: “Về lý luận, đảng Lao động VN theo chủ nghĩa Mác Lê-nin, lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam.” (trang 150)

Khi gặp riêng ông Hồ, Nguyễn Văn Trấn đã có gan nói với ông ta: “Anh em trong tổ nói bộ hết duyên rồi sao mà lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm tư tưởng chỉ đạo cho đảng ta.”

*   Khi nói đến cố vấn Trung Quốc trong cải cách ruộng đất, Nguyễn Văn Trấn viết: “Cái loài cố vấn ấy còn dở sách ra (nói có sách mà) lấy lời của Mao Trạch Đông: “Kiểu uông tất tu quá chỉnh”, mà anh phiên dịch vừa nói vừa ra bộ “như cái cây nó cong về bên hữu, ta muốn uốn nó cho ngay thì tất nhiên là phải bẻ cong nó qua về bên tả, bên trái. Buông ra nó trở lại là vừa.” Cho nên không sợ quá trớn. Có quá trớn mới bớt lại mà ngay được. Đấu tranh ruộng đất là một cuộc cách mạng kinh thiên động địa. Trong một cuộc đảo lộn lớn lắm của cuộc sống, có người chưa quen họ kêu. Không có gì lạ cả. Ta đánh họ đau mà họ không kêu đó mới đáng lấy làm lạ chớ!”

“Đây mới là thí điểm, nó đòi ta làm hồ sơ trong từng xã. Một xã có từng này bần cố nông thì theo kinh nghiệm Trung Quốc, nhất định phải có bằng này địa chủ.

“Độc giả ơi! Anh mà hỏi tôi (dầu cho hồi ấy) có tin những lời thánh thần ấy hay không là anh chửi cha tôi. Tôi giận trong lòng, sao họ khinh miệt dân ta đến như vậy.” (trang 166-167)

*   Nhân nhắc lại chuyện Lê Văn Lương và Nguyễn Đức Tâm bị hạ tầng công tác, Nguyễn Văn Trấn đã để trong ngoặc đơn lời than đau đớn về cải cách ruộng đất:“(…Ôi bằng cải cách ruộng đất, các ngươi đã giết bao nhiêu mạng người!) ” (trang 197)

Một trăm trang sau ông viết: “Tội ác của cải cách ruộng đất thì nói sao cho xiết.” Và: “Mình phải thay trâu mà kéo cầy nhưng vẫn tin như thật: có cơm chan nước mắt mà lùa là nhờ ơn đảng, ơn Bác.” (Trang 268)

*   Ngoài cái tội giết người, cải cách ruộng đất còn bị Nguyễn Văn Trấn kết tội phá tan hoang kinh tế:

“…Người nông dân đốt mía làm củi đem bán (ở Hà Đông, MV). Cải cách ruộng đất làm cho sản xuất như trẻ con đứng chựng. Rồi cải tạo tư sản đánh cái đòn của nó làm cho kinh tế hóa ra cái gì lúc ấy không có lời văn tả, vì nhân văn giai phẩm đã bị đánh quẹp.

Miền Bắc cứ nghèo, nghèo, nghèo.

Đã là Cộng Sản thì hết tình, mà còn là chệc nữa thì hảo hán, vậy nên Chu Ân Lai nói ngay khi ông sang thăm đất nước ta, một cách chí tình và hảo hán: “Ta phải biết làm ra mà ăn, chứ không lẽ cứ ngửa tay mà xin hoài.” ” (trang 211)

*   Vì ông là đại biểu quốc hội, luật cải cách ruộng đất có đưa ra quốc hội thông qua, nên ông nghĩ mình cũng có trách nhiệm về việc thông qua qua cái luật giết người đó. Nhưng ông níu gấu aó phó chủ tịch nhà nước Tôn Đức Thắng để bào chữa như thế này: “Nếu má tôi đội mồ ngồi dậy mà hỏi: “Tại sao con đồng ý cái luật ác nhân ác đức ấy?” Tôi sẽ thưa: – Luật ấy có ác nhơn, cũng tại người làm. Nè nghe má. Có lần anh chị em Nam Bộ “đại biểu” biểu tôi đến gặp ông già Tôn mà hỏi, tại sao ổng để cho cải cách ruộng dất giết người như vậy?” Bác Tôn đang ngồi, nghe tôi hỏi, liền đứng dậy bước ra khỏi ghế, vừa đi và nói:

– Đ. m., tao cũng sợ nó, mày biểu tao còn dám nói cái gì?” (trang 266-267)

*   Về chỉnh huấn, Nguyễn Văn Trấn kể: “Từ khi tôi mới ra miền Bắc, được nói chuyện với những đàn anh có Tây học nhiều, thì thấy ai nấy đều không tán thành cái lối chỉnh huấn mà Mao sáng tác… Ai nấy đều nói chỉnh huấn phản ánh sự cường bạo của bực vua chúa cách mạng “phương Đông”. Là một sự bày vẽ một cách phi nhân, thần thánh tư tưởng của đảng của giai cấp công nhân, rồi bắt người ta theo đó mà kiểm điểm mình…

“Tôi nhìn quanh quất thấy có người viết bản kiểm thảo khổ sở. Họ nói khổ sở không phải là nói ra lỗi lầm, mà khổ sở là phải bịa ra lỗi lầm để bản kiểm thảo được coi là thành khẩn…

“Thật ra sự học tập chỉnh huấn đã làm cho người Cộng Sản thơ ngây ngày xưa thấy: học rồi mình chẳng còn ra con người nữa.” (trang 172-173)

*   Về sự tranh chấp giữa Liên Xô và Trung Quốc trong khoảng thập niên 60, Nguyễn Văn Trấn ghi nhận: “Ông Hồ chung thủy với Liên Xô mà đồng thuận với chiến lược hòa bình. Nhưng ông không đồng thuận được với đảng (đảng mà ông tổ chức và giáo dục). Nó đem ông ra mà làm tình làm tội. Cái đó ít ai biết. Tôi biết và sẽ nói đây….(trang 325)

* Nhờ thân với Bùi Công Trừng, Ưng Văn Khiêm và Xuân Thủy mà Nguyễn Văn Trấn biết được rằng lúc đó đảng là chính Lê Đức Thọ. Thọ đã khống chế được cả ông Hồ, để đưa ra đường lối ngả hẳn về Bắc Kinh. Ai đi chệch bị ghép tội “xét lại”.

“Với cái giọng “mẹ đời” Bùi Công Trừng nói với tôi: (3) Cái thằng tự nhiên muốn làm Khổng Tử này, khó lật nó lắm. Vì nó có công trạng ở Nam Bộ, và mấy bà má ôm nó chum chủm trong lòng.

– Cái thằng Lê Đức Thọ trước giờ họp, nó đi đi lại lại trong phòng, như thể đội truởng một tổ pháo đi kiểm tra đốc thúc pháo binh chuẩn bị. Nó không hút thuốc. Nhưng hôm nay nó cầm lon thuốc Đại Tiền Môn ở tay này, tay kia nó cầm bật lửa, thứ như chầy giã gạo. Nó đi lựa mặt mà chìa lon. Nguyễn Khánh Toàn, tay ăn hút, thấy thuốc lá Trung Quốc như lân thấy pháo. Nó mở hộp lấy một điếu, ngậm rồi chìa mồm ra. Thằng Thọ đánh bật lửa một cái “beng”. Đứng xa thấy thằng Toàn gật đầu. Thọ đi đến chỗ thằng Huy. Ce petit -thằng nhỏ này bợ hộp thuốc. Lê Đức Thọ cũng đánh bật lửa một cái “beng”. Thằng Huy khoát mồi lửa, chưa đốt thuốc, có lẽ nó đang còn tìm lời văn “Mao nhiều”. Ở một góc phòng thằng Hà Huy Giáp đứng, Lê Đức Thọ tới, nói cái gì, thằng Giáp nghiêm sắc mặt, gật gật đầu. Ba vị ấy được Lê Đức Thọ coi là ba tay có lý luận, mời – biểu- lên tiếng.

Mà trời ới, dưới triều đại Hồ Chí Minh ai được Lê Đức Thọ để ý có cảm tình là má thằng đó đẻ nó đêm rằm thắng bảy.

– Tao nói cho mày nghe nha, Bùi Công Trừng nói tiếp, về chuyện lão Hồ Chí minh. Tao nghe thằng Thọ âm mưu lật đổ ông già, và lấy Nguyễn Chí Thanh thay. Ông lão chỉ còn làm người chuyên nghiên cứu lý luận Mác- Lê-nin. Chuyện nước giao Nguyễn Chí Thanh. Việc đảng, statu quo- Lê Duẫn.

Mày coi, coi nó tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta bận đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà day mặt ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá quay vô, đưa tay, để nói, thì thằng Thọ lễ phép Bắc-Hà: “Bác hãy để cho anh em người ta nói đã mà.”

Tao đếm lão Hồ, đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông cũng cho hội nghị nghe, ông nói ca dao bằng tiếng khóc: Khi thương trái ấu cũng tròn. Khi ghét bò hòn cũng méo. Và ông nói xụi lơ: Thấy lợi người ta cho tên lửa vô; thấy bất lợi người ta rút ra mà!

Bùi Công Trừng nói với tôi như vậy. (trang 328)

“Còn Ung Văn Khiêm:

– Trước khi vào hội nghị, tao có tranh thủ nói riêng với ông cụ, là tao sẽ không đưa ra cái nháp bản tuyên bố chung của tao và Novotny, cho ông cụ yên tâm. Vì trong bản thảo ấy ông cụ có thêm mấy chỗ, còn mang tuồng chữ của monsieur Hồ Chí Minh rành rành. Tao nghĩ bản thảo ấy đưa ra không phân bua gì cho tao, mà chỉ làm thớt cho sáu Thọ băm ông cụ….

Hội nghị 9 này có thông qua cái “nghị quyết 9″ và mấy anh ấy nói là cũng có trên 10 ủy viên trung ương không bỏ thăm.

Anh Khiêm lộ bí mật.

– Tao có hỏi mí ông Cụ có bỏ thăm không. Ông Cụ làm thinh.

“Nghị quyết 9″ tạo một cao trào trấn áp, khủng bố đảng viên. Nó cho lập ra ban xét tội và kết án trực thuộc bộ chính trị của trung ương đảng. Ban này có mấy ban viên tôi không nói. Chỉ nói người đứng thớt là Lê Đức Thọ, người làm heo là Trần Quốc Hoàn (tôi nói giọng thịt luộc Chợ Đệm)

Hai vị này toàn quyền quy kết tội: xét lại chống đảng, âm mưu lật đổ, phản cách mạng, tay sai đế quốc.

Nếu đứng về mặt đảng mà anh ra nghị quyết khai trừ 4 tên: Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Vịnh, Bùi Công Trừng và Lê Liêm, thì quyền anh trong nội bộ đảng anh.

Đàng này, hiến pháp, luật pháp anh coi như giẻ rách. Ôi! Nói làm chi đến nhân quyền cho xa xôi.” (trang 328-329)

*   Tiếp theo Nguyễn Văn Trấn đã nói đến trường hợp Hoàng Minh Chính bị bắt và danh sách rất nhiều người bị bắt tiếp theo mà ông chỉ nêu tên 22 người có chức vị, tên tuổi, trong số đó có những người bỏ xác trong tù như Phạm Việt, và có người về đến nhà thì chết như Phạm Kỳ Vân.

NVT còn đăng nguyên văn đơn khiếu nại của bà Vũ Đình Huỳnh (Phạm Thị Tề) trong đó có nói nặng về Lê Đức Thọ.

“Ông Lê Đức Thọ đã nhân danh đảng hành động như nhà độc tài vô nhân đạo với ngay những người bạn, những người đồng chí đã cùng nhau chia sẻ gian lao trong nhà tù đế quốc, những đồng chí đã cưu mang chính bản thân mình trong những năm tháng khó khăn nhất của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Chỉ vì họ đã suy nghĩ không giống mình và đã dám nói ra những suy nghĩ ấy. Thật là đau đớn và tôi nghĩ nỗi đau đớn ấy se lòng hàng triệu trái tim yêu tự do và công lý.” (trang 332)

*   Sau khi trích dẫn “đơn khiếu nại” của Phạm Thị Tề, NVT cho rằng bà này làm một việc vô ích vì “chớ hiến pháp và pháp luật bị coi như không có thì thưa” với ai mà làm đơn”. Ông cũng cho rằng có lẽ trong thâm tâm bà ta có ý “viết một bản án, như Nguyễn Ái Quốc viết “bản án chế độ thực dân vậy.” (trang 333)

*   NVT đã lên án chế độ bằng những lời lẽ không kiêng nể: “Tội ác của chế độ này, từ 40 năm nay thật nói không hết…” (trang 345)

*   Ông gọi những Nguyễn Hộ, Hồ Hiếu, Đỗ trung Hiếu và linh mục Chân Tín là “tử nạn của chế độ khi vui thì bắt, khi buồn thì tha”.(trang 366)

*   Ông so sánh và thấy rằng ban đầu khi đảng cần đến người ngoài đảng hợp tác trong chính quyền, thì ít thấy những người đó bị khuyết điểm, Nhưng “đến nay thì từ chủ tịch xã, phường, đến chánh phó chủ nhiệm các khoa, trưởng, phó phòng hành chánh, tuyệt đại bộ phận đều là đảng viên. Mà buồn thay, trong cái quốc nạn tham nhũng hiện nay thì có thể nói thủ phạm hầu hết là đảng viên, vì chỉ có họ mới có quyền để mà tham nhũng.” (trang 368)

*   Về tình trạng tha hóa của giai cấp công nhân, Nguyễn Văn Trấn khẳng định kẻ trách nhiệm chính là đảng chứ không phải họ: “Chúng ta thường phê phán giai cấp công nhân tha hóa, nhưng quên rằng chính Đảng, Nhà nước vô sản của ta đã làm tha hóa giai cấp công nhân” (trang 384)

*   Vốn là một nhà báo có tài và năng nổ, Nguyễn Văn Trấn cho người đọc có cảm tưởng rằng mục đích chính của cuốn sách ông viết là nhằm tấn công đảng và nhà nước xhcn về quyền tự do báo chí mà điều 67 của hiến pháp đã quy định: “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình…” Mặc dù cái điều ấy cho thòng thêm câu “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội.” Ông viết: “Đã nói tự do báo chí sao lại phải xin phép? Chúng tôi rất khó hiểu về quan niệm tự do của các anh. Đã xin phép thì không còn gì là tự do.” (trang 390)

*   Ông đã không ngần ngại làm một việc so sánh với chế độ thực dân trước kia: “Điều rất khó hiểu là trong chế độ xã hội thuộc địa cũ trước đây của xứ Nam Kỳ (Cochinchine), người Cộng Sản đã dựa vào quyền tự do báo chí của chánh quốc (Đế quốc Pháp) mà ra báo “L’Avant- Garde” (Tiền Phong) do đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn phụ trách, báo Le Peuple và báo Dân Chúng năm 1938 do đồng chí Nguyễn Văn Trấn phụ trách mà không xin phép, chỉ có tờ khai báo đơn giản (simple déclaration) thôi. Còn ngày nay trong chế độ xhcn, -chế độ tự do- mà những người kháng chiến cũ không được quyền ra báo, làm báo, mặc dù hiến pháp đã quy định các quyền tự do của công dân trong đó có quyền tự do báo chí. Thật là kỳ quặc!” (tr.392)

*   Ông còn đi xa hơn nữa – và không biết sẽ dẫn tới đâu – khi viết: “Chế độ cai trị thuộc địa mở mang đầu óc cho dân tộc sống quá lâu dưới chế độ phong kiến lạc hậu. Và người Saigon cũ, dân Nam Kỳ, sống với chế độ thực dân, đã có sự giác ngộ chính trị đạt được trình độ chín muồi rất sớm.(4) Bắc Hà như Trường Chinh, Lê Đức Thọ không thấy những giá trị dân chủ mà nước Pháp sớm đem cho “thần dân Pháp ở Nam Kỳ” và người ta lấy cái không dân chủ, vô luân thường mà đè đầu người đã tập nhiễm dân chủ cách mạng lâu đời rồi thì đè nén như ở các xứ lạnh, tuyết phủ, mặt trời lên, cỏ lại ngóc đầu.” (432)

“(Ta tách hẳn cái gọi là “văn hóa ngu dân của thực dân Pháp” ra khỏi tư tưởng dân chủ của nền dân chủ khai sáng Pháp, là làm một việc vô nghĩa)

“Đây tôi muốn bày tỏ một điều đáng tiếc là người ta genre

*   Chẳng những ông so sánh tự do báo chí ông còn so sánh cả bầu cử và cũng dẫn chứng cho thấy thời Tây tương đối được tự do hơn ngay nay. (trang 433)

*   Còn việc xuất bản sách thì ông thưa với quốc hội trong ngoặc đơn như sau: “(Dạ thưa quốc hội, ngày xưa, dưới thời Pháp thuộc việc xuất bản một quyển sách dễ như cơm bữa)” (trang 447)

*   Nơi đầu phần VI tức phần cuối của tác phẩm, trước khi trích đăng nguyên vân hai bài sám hối của linh mục Chân Tín, Nguyễn Văn Trấn đã nêu lên mấy nguyên tắc đạo lý của nhà triết học duy tâm E. Kant (5)chủ trương lấy nhân vị làm cứu cánh mọi hoạt động, không được coi nhân vị là phương tiện. Ông giải thích lới của Kant như sau: “Nên cắt nghĩa trong vài dòng: nhân vị đem chất liệu lại cho bổn phận. Nhân vị là một cứu cánh tự nhiên do đó nó là tôn nghiêm và trong những điều kiện đó, luân lý chính là sự đối đãi với con người coi như một cưú cánh chứ không phải một phương tiện.” (Trang 343)

Cảm nghĩ về tác giả và tác phẩm “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”:

Gấp cuốn sách lại, người đọc cảm thấy thương tác giả; và tiếc rằng ông đã để cả cuộc đời phục vụ một lý tưởng, tưởng rằng cao đẹp mà kết cuộc, như có lẽ chính ông cũng đã nhìn thấy rõ trong những ngày cuối đời ông, nó chỉ là ảo tưởng, “bánh vẽ”. Ông đã cố biện minh cho lựa chọn của ông trong quá khứ bằng cách nhắc lại “những phát kiến cách mạng xã hội ” của Mác, những “tư duy đầy sức sống” của Lê-nin, lòng “nhân ái, tinh thần dân tộc” của Hồ Chí Minh. Nhưng không úp mở ông lên án tư tưởng Mao Trạch Đông, và nhất là tư tưởng độc tài của”genre Bắc-Hà” như Trường Chinh, Lê Đức Thọ. Mọi tội lỗi của đảng xem ra ông muốn đổ hết lên đầu nhóm lãnh đạo miền Bắc. Không ai nghi ngờ ông chủ trương một nước riêng của miền Nam mà theo ông, những người lãnh đạo phải gồm những người đã từng được hấp thụ văn hóa của một nước Pháp tiên phong trong cách mạng dân chủ tư sản. Ông là người Cộng Sản, nhưng lại ước muốn – và có vẻ luyến tiếc – một nền dân chủ tư sản, dù chỉ là “tương đối.”

Riêng về Hồ Chí Minh ông trưng dẫn rất nhiều chỗ chứng tỏ ông mến phục vị lãnh tụ của ông. Ông muốn bắt chước người xưa khắc trên bia mộ của triết gia duy tâm Kant câu nói thời danh của ông này, để “khắc trên nắp mồ của Hồ Chí Minh, chôn trong lòng tôi câu: “Người ấy sống có luân thường”. Ông đã trích di chúc của ông Hồ mong các đảng anh em đoàn kết. Rồi gọi Phan Văn Khải: “Chú Khải ơi, …có đêm nào chú trằn trọc nghĩ mà thương cụ Hồ không?” Nhưng cũng có chỗ ông viết “lão Hồ Chí Minh” (trang 328). Chỗ khác ông trưng dẫn câu nói bất hủ của ông Hồ: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…” và coi câu đó là lý do để đảng của nhóm Trường Chinh, Lê Đức Thọ vội vã thống nhất đất nước liền sau giải phóng (1946). Mà ông thì hoàn toàn phản đối việc thống nhất đó. Vì vậy tuy không dám nói ra, ông đã ngầm chê, nếu không nói là oán ông Hồ rồi vậy. Nhiều lần ông đã dùng câu: “Bác nói thì thôi” để cho thấy ông phục ông Hồ, hay ít ra cũng nể ông Hồ. Không có ý tranh luận làm chi. Ông cũng trả lời “dạ thưa, bác nói thì thôi” khi ông Hồ hỏi ông giải đáp về dân chủ tập trung “như vậy có đuợc không?” Ông đã thuật lại lời ông Hồ giải thích như sau: “Như các cô, các chú có đồ đạc, tài sản gì đó thì các chú các cô là chủ, đó là dân chủ. Các chú các cô không biết giữ, tôi giữ giùm cho. Tôi tập trung bỏ vào rương. Tôi khóa lại và bỏ chìa khóa vào túi tôi đây. Đó là tập trung.” Giải thích dân chủ tập trung như thế mà “Dạ thưa, bác nói thì thôi”, thì đúng là “thì thôi”. Dầu sao thì khi kể lại những mẩu chuyện mà Bùi Công Trừng và Ung Văn Khiêm nói về đại hội trung ương đảng để chuẩn bị đưa ra nghị quyết 9 vào cuối năm 1963 ông đã muốn bào chữa cho ông Hồ, coi như ông này bị đàn em khống chế mà phải quyết đánh miền Nam, chứ trong thâm tâm ông ta vẫn muốn theo đường lối sống chung hòa bình của Khrút-sốp vào thời gian ấy. (6)

Tôi dám chắc độc giả miền Nam – nhất là những người thuộc lớp “cựu kháng chiến” – khi đọc cuốn sách này sẽ rất thích. Vì nó đã được viết bằng một giọng văn đặc miền Nam, mà lại là giọng văn nói rất dễ đi vào lòng người. Nội dung của nó thì như đã trình bày ở trên, đúng như nhận xét của “nhóm công tác viên” đã báo cáo, gồm những điểm rất “độc hại” cho đảng. Ông đã kể ra không biết bao sự việc chứng tỏ đảng không sáng suốt, độc tài, bưng bít, mờ ám. Ông đã lên án nặng nề đảng đã tàn sát nhiều người, giam giữ bất hợp pháp nhiều đảng viên có phẩm chất tốt dám nói lên những sai lầm của đảng.

Ông cũng đã dành gần một trăm trang sách để ghi lại nguyên văn những lời phê bình, lên án đảng của những người như Nguyễn Hộ, Hồ Hiếu, Đỗ Trung Hiếu và vợ là bác sĩ Đỗ Thị Văn, Nguyễn Mạnh Tường, Chân Tín, Hữu Loan, Phạm Thị Tề…

Ở phần kết luận ông đã viết: “Kết Thúc. Cái mà nói rằng viết cho quốc hội là đây. Viết thư làm đơn xin tự do báo chí….” (trang 463)

Câu trên nhắc người đọc nhớ lại có chỗ ông đã phê bình bà Phạm Thị Tề về việc làm đơn khiếu nại cho chồng, con và ông còn nói đáng lẽ bà Tề phải đề “bản cáo trạng chế độ” mới đúng. Thì đây tại sao ông lại cũng viết “làm đơn xin tự do báo chí”? Thực sự cuốn sách này không phải là đơn từ xin xỏ gì cả. Nó đúng là một bản cáo trạng chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay của chính một trong những ngưòi đã “có công” trong việc lãnh đạo đảng cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945. Cuốn sách của ông đáng lý phải có phần kiểm điểm những sai lầm của chính ông trong khi mù quáng theo Cộng Sản mà tàn sát những người chống Cộng khi ông còn có quyền có thế ở miền Nam, trước khi bị điều ra miền Bắc.

Dầu sao thì cuốn sách của ông đúng là một đòn chí tử đánh vào sự lãnh đạo của đảng và gián tiếp vào cnxh của Mác. Vì vậy mà nhóm công tác đặc biệt, sau khi đọc kỹ và phân tích cặn kẽ tác phẩm đã trình lên cho Đào Duy Tùng nhận xét sau đây:

“Đây là một cuốn sách đả kích cay độc Đảng ta và tác động mạnh mẽ tâm lý tư tưởng của người đọc, một cuốn sách phản động nhất trong những cuốn sách phản động! Bởi vì nó đã bêu xấu, chửi bới và lên án Đảng ta một cách toàn diện và có hệ thống.”

Có một điều khá thú vị là một người Cộng Sản theo thuyết Mác-xít duy vật kỳ cựu như Nguyễn Văn Trấn lại trưng dẫn Emmanuel Kant là nhà duy tâm học tổ bố. Hơn nữa lại nói đến “nhân vị” là điều tối kỵ đối với các nhà lãnh đạo miền Bắc. Người ta còn nhớ Tố Hữu và Trường Chinh đã lên án nhóm Nhân Văn Giai Phẩm năm 1957 rằng “Thấy kẻ thù nói Nhân Vị, bọn chúng cũng nói Nhân Văn.”

Chú thích

(+)“Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”, Nguyễn Văn Trấn, Văn Nghệ (Cali) tái bản lần thứ nhất, trang 345.

(1) lúc ấy là lâm thời, gọi là phó bí thư xứ ủy Nam Kỳ, dưới bí thư Bùi Công Trừng..

(2) Trong cuốn mà nhà xuất bản Văn Nghệ, California tái bản lần thứ nhất năm 1995 thì số trang là 504. Trong soạn phẩm này chúng tôi ghi theo số trang của nhà X.B. Văn Nghệ.

(3) Statu quo = giữ nguyên trạng (Latinh)

(4) Tiếng Pháp có nghĩa là “loại”, loài hay giống.

(5) Emmanuel Kant (1724-1804) triết gia duy tâm người Đức, tác giả cuốn “Critique de la raison pure” và “Critique de la raison pratique”. (Tạm dịch: Phê bình về thuần lý; và phê bình về thực lý)

(6) Viết đến đây chúng tôi tạm ngưng cầm tờ tuần san Saigon Nhỏ lên xem thì gặp Đào Nương, trong mục Phiếm Dị. Bà chìa cho xem bức thư của ông Đỗ Bồng Châu nào đó ở Virginia lên án các đảng viên Cộng Sản “phản tỉnh vì thất sủng”, trong đó có Bùi Tín và Nguyễn Văn Trấn. Bức thư có đoạn: “…Riêng về tên Nguyễn Văn Trấn, tác giả của tập sách được một số báo ở hải ngoại ca tụng “Viết cho mẹ và quốc hội”, thì đồng bào trong Nam còn ai xa lạ gì tội ác của tên này. Hắn giết hàng ngàn người vô tội bị hắn kết án là Việt gian đến nỗi hắn được đồng bào đặt cho hỗn danh là “hung thần Chợ Đệm”.

Chúng tôi ghi lại điều này để phản ánh một cái nhìn từ phía độc giả, hầu rộng đường phán xét.

  Nguyễn Văn Trấn(1914 – 1998 )

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_Tr%E1%BA%A5n#cite_ref-9

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

 Nguyễn Văn Trấn , còn gọi Bảy Trấn, là một nhà báo, nhà họat động cách mạng chống Pháp, Chính Ủy Bộ Tư Lệnh Khu 9, giảng viên trường Nguyễn Ái Quốc.

Nguyễn Văn Trấn sinh ngày 21 tháng 3 năm 1914 tại Chợ Ðệm, huyện Bình Chánh, tỉnh Long An (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) trong một gia đình địa chủ khá giả.

Năm 1927, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Năm 1930, ông đậu Tú tài phần nhất. Chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng của Phan Chu Trinh và Nguyễn An Ninh, ông bỏ học và bắt đầu hoạt động cách mạng chống Pháp, sau ông đó gia nhập đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1938, ông sáng lập tờ Le Peuple (Dân chúng).

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, ông lãnh đạo cuộc đảo chính cướp chính quyền ở Sài Gòn. Do có những hành động quyết liệt với các phần tử đối kháng, ông bị gọi là hung thần Chợ Đệm[1]. Có giả thuyết cho rằng Nguyễn văn Trấn là một trong ba người đã thực hiện việc giết Tạ Thu Thâu[i], hai người kia là Kiều Đắc Thắng [2] và Nguyễn Văn Tây [3].

Trong thời kỳ chín năm kháng chiến, ông làm tới chức Chính Ủy Bộ Tư Lệnh Khu 9.

Sau năm 1954, Nguyễn Văn Trấn tập kết ra Bắc và trở thành giảng viên trường Nguyễn Ái Quốc, rồi Vụ Phó Ban Tuyên huấn Trung ương.

Năm 1964, ông được bầu làm ủy viên Ủy ban Thống nhất trong kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa, ngày 03 tháng 7 năm 1964.[4]

Sau khi về hưu, Nguyễn Văn Trấn cộng tác với nhiều tờ báo tại Việt Nam, như tờ Tuổi Trẻ cười, với bút hiệu Hai Cù Nèo và viết nhiều sách khảo cứu, tự thuật.

Trong những năm cuối đời, ông tỏ vẻ e ngại về vai trò của Đảng Cộng sản. Ông từng tham gia Câu lạc bộ Những Người Kháng chiến cũ và kí vào bản kiến nghị 100 người năm 1988 kêu gọi thay đổi cách thức bầu cử. Theo tờ Asia Times Online, ông đã cho rằng Đảng đang xâm phạm quyền hạn của nhà nước và đã kêu gọi tạo luật lệ cho đảng phải theo.[5] Năm 1995, ông viết tập “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội” và xuất bản với tư cách cá nhân tại thành phố Hồ Chí Minh trong đó ông nhấn mạnh quyền tự do báo chí là nhân quyền cơ sở nhất.[6] Tác phẩm này bị nhà cầm quyền cấm lưu hành một tuần sau khi xuất bản[7].

Năm 1997, ông là một trong 45 nhà văn được Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) trao giải Hellman/Hammett dành cho các nhà văn bị đàn áp chính trị.[8]

Ngày 1 tháng 5 năm 1998, ông qua đời tại Sài Gòn, hưởng thọ 85 tuổi.

Các tác phẩm chính

Chúng Tôi Làm Báo (1977)

Chợ Ðệm Quê Tôi (1985)[9]

Chuyện Trong Vườn Lý (1988)

Logich Vui (Nhà xuất bản Sự Thật 1992)

Trương Vĩnh Ký, Con Người và Sự Thật (1994)[10]

Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội[6]

Chú thích

^ Bảng Tường Trình Về Buổi Nói Chuyện Về Nhân Quyền Và Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam Của Hòa Thượng Thích Giác Lượng:

^ Theo Người Bình Xuyên và NGUYỄN BÌNH, Huyền Thoại và Sự Thật của Nguyên Hùng : Kiều Đắc Thắng là công nhân quê miền Trung, trước năm 1945 vô Sài Gòn sinh sống đủ nghề từ phu đồn điền, khuân vác, thợ hớt tóc. Bản chất Kiều Đắc Thắng giống như tên : háo thắng. Không rõ nguyên nhân gì mà Kiều Đắc Thắng bị Tây bắt đày ra khám Vũng Tàu (có tài liệu nói là ăn cướp). Nhờ Năm Bé là một tay anh chị Xóm Chiếu giúp đỡ, Kiều Đắc Thắng vượt ngục về Lái Thiêu.Khi Cách Mạng Tháng Tám nổ ra, Kiều Đắc Thắng tự xưng là chỉ huy trưởng Trung Đoàn kháng chiến miền Đông đóng quân ở Bưng Cầu (tài liệu khác nói Thắng tự xưng tư lệnh miền Đông). Ai Kiều Đắc Thắng cũng cho là Việt gian, nhà máy nào cũng xung công. Ai chống lại thì giết. Danh sách nạn nhân của Kiều Đắc Thắng dài sọc, trong đó có nhà cách mạng Phan Văn Hùm. Các hành động quân phiệt của Kiều Đắc Thắng chấm dứt khi đặc phái viên Trung ương Nguyễn Bình vào Nam thống nhất lại các tổ chức vũ trang.

^ Tìm hiểu cái chết của Tạ Thu Thâu

^ Danh sách các vị lãnh đạo nhà nước và các vị phụ trách các cơ quan cao cấp…

^ Tran Dinh Thanh Lam, “Vietnam’s leaders sidestep the ‘c’ word”, Asia Times Online, 2 tháng 5, 2007. Truy cập 16 tháng 5 năm 2008.

^ a b Vo Van Ai (2000). Michael Jacobsen và Ole Bruun (biên soạn). ed. Human Rights and Asian Values: Contesting National Identities and Cultural Representation in Asia. Routledge. 99. ISBN 0700712127. http://books.google.com/books?id=HpdiltchTUgC&pg=PA99&lpg=PA99&dq=%22Nguyen+Van+Tran%22+%22National+Assembly%22&source=web&ots=qsh8Vp8l3-&sig=x9IiA5f-oIYW5YPb10RmrhEZkIg&hl=en. 

^ Jacobsen và Bruun, tr. 110

^ Human Rights Watch. “Congressional Casework”. Truy cập 16 tháng 5 năm 2008.

^ Chợ Đệm quê tôi/ Nguyễn Văn Trấn.- Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1985.- 510tr; 19cm

^ Trương Vĩnh Ký con người và sự thật. Biên khảo của Nguyễn Văn Trấn – Thành phố Hồ Chí Minh: Ban khoa học xã hội thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, 1993 – 274trang; 19cm.

  http://son-trung.blogspot.com/2008/09/nguyn-vn-trn-1914-1998-mt-tm-hn-nam-k.html 

NGUYỄN VĂN TRẤN (1914 – 1998 ), MỘT TÂM HỒN NAM KỲ CƯƠNG DŨNG

Wednesday, September 3, 2008

Nguyễn Văn Trấn sinh ngày 21 – 3- 1914 quê ở Chợ Đệm, Long An, ngoại hiệu là Bảy Trấn. Năm 1931, ông tốt nghiệp chương trình trung học Pháp sau ra làm báo, năm 1936 theo đảng Cộng sản Đông Dương, trải qua nhiều chức vụ như Bí thư khu bộ miền Nam chúng ta thấy ông rất tự hào về thành tích cộng sản của ông. Ông cùng Trần Văn Giàu nổi tiếng giết người không gớm tay, đã sát hại các chiến sĩ quốc gia, và các đảng viên cộng sản phe Trotsky trong khởi nghĩa tháng 8-1945.

Ông đã viết nhiều sách về chính trị. Tác phẩm “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội” là một thiên hồi ký của tác giả, đồng thời là những trang lịch sử sống động của Việt Nam dưới ách cộng sản miền bắc.

Nhận thấy đảng cộng sản phản bội dân tộc, ông và Nguyễn HỘ rút ra khỏi đảng cộng sản. Bị công an đến nhà khủng bố và hạ nhục, ông uất mà chết. Tác phẩm “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội” bị cấm ở trong nước, sau được chuyền ra hải ngoại. Văn phong của ông, tư tưởng của ông mang nặng chất Nam kỳ cương trực, rất có giá trị hiện thực lịch sử. Tác phẩm này nhấn mạnh các điểm:

– Cải Cách Ruộng Đất

– Nhân Văn Giai Phẩm

– Lê Đức Thọ lấn áp ông Hồ.

– chính sách bần cùng hóa miền Nam

– vụ chia chác núi rừng Việt Nam.

1. Cải cách ruộng đất

Đây là một vấn đề quan trọng khiến cho nhiều tài liệu đề cập đến. Nguyễn Văn Trấn cho biết cải cách ruộng đất là một sự sao chép chính sách của Mao Trạch Đông. Một xã có chừng này bần cố thì theo kinh nghiệm Trung Quốc nhất định phải có bằng này địa chủ (167). Theo Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Văn Châu, cán bộ khu 5 đã đi học Bắc Kinh về nói:n Đấu tố như vậy rốt cuộc được cái gì! Được cái nát tan tình nghĩa làng xóm (169). Bùi Công Trừng nhận định về cải cách ruộng đất như sau:

“Cải cách ruộng đất đem lại cho người nông dân Bắc bộ một khoảnh đất con chó nằm còn ló đuôi ra ngoài” ( 229).

Nói tóm lại, Nguyễn Văn Trấn cho ta thấy cải cách ruộng đất là một tai họa, một sự phỉnh phờ, nông dân không được ích lợi gì về vật chất và tinh thần, muôn đời họ vẫn phải sống nghèo khổ của đời nô lệ.

2. Nhân Văn Giai Phẩm:

Trước tiên ông luận về đường lối văn học nghệ thuật miền bắc. Những nhận xét của ông sắc bén chưa từng thấy. Ông cho rằng miền bắc theo đường lối ‘hiện thực xã hội chủ nghĩa’, là một thứ văn học dối trá, bắt văn nghệ sĩ phải tô hồng chuốt lục cho chế độ, ai can đảm nói lên sự thật thì bị khủng bố, trừng phạt. Ông viết:

“Hiện thực xã hội chủ nghĩa tức là con đường đi lên trong văn học, nghệ thuật. Nghĩa là văn nghệ chỉ được nói lên xã hội thiên đàng vô cùng đẹp, chưa có, chưa bị cướp, áp bức, bóc lột đang diễn ra trước mắt. Rất hiếm những bí thư, chủ nhiệm, thủ kho, cửa hàng tốt, phải nói hầu hết là ăn cắp, thi nhanh ăn cắp, nhưng văn học không được nói thật mà phải dựng lên toàn là những người lý tưởng” (275).

Tiếp theo, ông trình bày việc cộng sản đàn áp Nhân Văn, Giai Phẩm và tình hình văn nghệ tại miền bắc. Trong những văn nghệ sĩ và chính trị gia xã hội chủ nghĩa, kể những kẻ đã ra ngoại quốc, chưa ai lên tiếng bênh vực Nhân Văn Giai Phẩm mạnh mẽ và chí tình như ông. Ông cho rằng tình hình thế giới đã ảnh hưởng đến Việt Nam, nhất là những biến cố quan trọng trong thế giới cộng sản lúc này như là Khrutsow tố cáo Staline, Mao đưa ra chiến dịch bách gia tranh minh, cho nên Việt Nam đã nổi dậy chống nhiều thứ trong đó có chống sùng bái cá nhân, chống bất công, chống tham nhũng và chống đàn áp, kìm kẹp. Luật gia Nguyễn Mạnh Tường tố giác cộng sản độc tài:

“Từ trước đến nay, ta có thể ví đảng Lao Động như mt cây rất to, lá rườm rà che hết ánh sáng của mặt trời khiến ngay một ngọn cỏ cũng không thể mọc dưới chân nó được”

(311).

Trên báo Nhân Văn, Nguyễn Hữu Đang đã kêu gọi đảng và nhà nuớc phải chú trọng đến vấn đề pháp trị, và ông phê phán tòa án cộng sản bằng những lời thẳng thắn:

“Tòa án là một tòa án tha hồ tùy tiện còn hơn tôn giáo pháp đình của giáo hội Trung cổ. Muốn bắt ai thì bắt, muốn xử ai thì xử, bịa ra luật nặng nhẹ tha hồ để xử”

(274).

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ra đời 1955, nhưng mãi đến 1956, Mao Trạch Đông mới

phát động ‘ bách hoa tề phong, bách gia tranh minh’. Tuy ra sau nhưng nó có tác dụng trở lại đối với Việt Nam,và Việt Nam bắt chước Trung Quốc triệt hạ Nhân Văn Giai Phẩm năm 1957. Ông hóm hỉnh thuật lại câu chuyện Trường Chinh tiếp xúc báo chí. Một nhà báo hỏi Trường Chinh:

– Như vậy là cách mạng đã cấm tự do ngôn luận?

Ông Trường Chinh sửng sốt:

– Anh nói sao? Các anh được tha hồ tự do chửi đế quốc đó thôi! (275)

Nguyễn Văn Trấn đã viết về các nhân vật trong Nhân Văn, Giai Phẩm khá đầy đủ. Ông viết về Nguyễn Hữu Đang như sau:

” Nguyễn Hữu Đang linh hồn của hội Truyền Bá Quốc Ngữ cùng với Nguyễn Văn Tố hoạt

động cho Mặt trận Văn Hóa Cứu Quốc. Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi đều do Đang tổ chức. Đang là trưởng ban tổ chức lễ tuyên ngôn độc lập, bộ trưởng Thanh niên khi rút khỏi Hà Nội. Vào Thanh Hóa, Tổng Thanh Tra Bình Dân Học vụ 1954, mời nhận bộ trưởng, sinhhoạt đảng nhưng từ chối. Đang nói: Nội bộ thiếu dân chủ trầm trọng, mình bây giờ chỉ một mình một đảng “(278).

“Nguyễn Hữu Đang khước từ vinh hoa phú quý do cộng sản chiêu dụ, ông sống bằng bàn tay lao động của ông như là trình bày bìa cho tờ Văn Nghệ, rồi ra làm tờ Nhân Văn. Kết thúc Nhân Văn, ông bị tuyên án 17 năm tù nhưng được bảy năm thì hội Quốc Tế Nhân Quyền can thiệp nên ông được thả ra. Phùng Cung bị giam bảy năm vì bài Con ngựa già Chúa Trịnh. Vũ Duy Lân cho Hữu Đang chiếc áo len cũng bị tù bảy năm. Trần Dần bị tù, Hữu Đang đi lượm bao thuốc lá để đổi lấy cóc nhái của đám con nít. Hữu Loan đi thiến heo, Trân Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường sống cuộc sống bị bạc đãi, bị tuyệt thông” (280- 282).

Nguyễn Văn Trấn ca ngợi Trần Dần và Nguyễn Hữu Đang bằng những lời chân thành :

“Trần Dần chỉ là hậu thân của của những người đã viết Vạn Ngôn thư, Thất Trảm thư,. . . cũng như vấn đề pháp trị của Nguyễn Hữu Đang. Vấn đề văn học mà Trần Dần đòi xét lại cách đây hơn 30 năm hiện giờ vẫn đang rất là thời sự. Cái tai họa lớn nhất hiện giờ vẫn là khuyến khích tô hồng,đề cao con người giả, việc giả, hàng giả. . . . Những người thấy trước tai họa muốn ngăn chận tệ nạn tô hồng thì bị gán ngay cho cái tội bôi đen. Đáng lẽ những người như Nguyễn Hữu Đang và Trần Dần phải được một giải thưởng quốc gia, một cái giải vinh quang là đã đưa ra được giải pháp cứu nguy cho dân tc. Nhưng trái lại, họ bị vu oan giá họa, đặt lên đầu họ cái án gọi là án Nhân Văn ” ( 277).

Bàn về sự ra đời của Nhân Văn, Giai Phẩm, Nguyễn Văn Trấn nói rằng họ không chống đối chính phủ, họ theo lời kêu gọi của đảng ‘nót thật, nói thẳng, nói hết’. . Ông cho rằng chính đảng đã khuyến khích các văn nghệ sĩ phê bình xây dựng. (Nguyễn Văn Linh sau này cũng bắt chước Hồ Chí Minh kêu gọi ‘nói thẳng, nói thật, nói hết’ .

Ông dẫn lời Hữu Loan:

“Khẩu hiệu nói thẳng, nói thật, nói hết ‘để xây dựng đảng, không những nói mồm mà còn viết lên các báo. Không những viết lên các báo nhà nuớc mà còn khuyến khích mở báo tư nhân để viết. Vì vậy mới có Nhân Văn Giai Phẩm của chúng tôi và Trăm Hoa của Nguyễn Bính ” (273)

Nguyễn Văn Trấn viết:

“Thực ra Nhân Văn hưởng ứng lời đảng gọi ‘ nói thật, nói thẳng, nói hết’ để xây dựng đảng và chỉ đãu tranh cho tự do báo chí, tự do ngôn luận mong thực hiện tự do bầu cử và quốc hội, vào chính phủ, chỉ cần thực hiện thật sự dân chủ nội dung cũng đã là lý tưỏng rồi” (277).

Ngày nay, đảng cộng sản Việt Nam vẫn đàn áp tự do ngôn luận tuy rằng họ đã bớt khắt khe hơn trước. Nguyễn Văn Trấn viết về tình hình văn nghệ thời Nhân Văn Giai Phẩm và ngày nay như sau:

“Hiện nay báo Văn Nghệ cũng đang làm các việc như Nhân Văn ngày xưa làm, cũng do được kêu gọi, được giao trách nhiệm, Nguyên Ngọc mới dám làm, và báo Văn Nghệ cũng đang bị khép tội là mắc những lệch lạc quan trọng. Có điều khác là Nhân Văn ngày xưa đơn độc, khi bị đánh không ai dám bênh, cứ ngậmmiệng, cúi đầu mà mang án. Còn bây giờ thì hoàn cảnh trong nước và ngoài nước đã khác, không thể đóng cửa mãi mãi trên những sai lầm vô định. Khi Nguyên Ngọc bị đánh, đã có báo chí khắp nơi lên tiếng, những bản kiến nghị đang tiếp tục gủi về “(277).

Đảng đã đàn áp Nhân Văn, Giai Phẩm, và đã gây ra biết bao tai họa cho dân tộc, Nguyễn Văn Trấn viết:

“Một lái xe chân chết người, muốn sửa sai không được, anh phải đi tù, phải tước bằng. Anh bác sĩ chữa bệnh làm chết người cũng thế, phải tước bằng và phải đi tù. Đấy là những ngườI làm chết ít người. Còn những người cầm vận mệnh của cả nước đã làm cho đồng bạc mất giá hàng vạn lần, làm cho hầu hết công trường, xí nghiệp phá sản, cho 90% con cái gia đình thành lưu manh, cho 50% trẻ em mất dinh dưỡng, còn giết oan bao nhiểu người có tài đức, còn phá phách bao nhiêu công trình văn hóa lịch sử. Những con dun bị đạp gào lên: sai rồi! Thì họ rất bình tĩnh trả lời: sai thì sửa! hoặc bất đắc dĩ phải sửa thì không biết sửa chân thành. Họ vẫn núp dưới lá cờ đảng để đi từ sai lầm tày trời này đến sai lầm tày trời khác ” (281).

3. Lê Đức Thọ lấn áp ông Hồ

Bùi công Trừng thuật lại diễn tiến của đại hội 9 của ban chấp hành trung ương đảng khóa 4 cuối 1963, trong đó ông Hồ thất thế, bị vây cánh Lê Đức Thọ kềm tỏa:

“Cái thằng Lê Đức Thọ trước giờ họp nó đi đi lại lại trong phòng, như thể đội trưởng một tổ pháo đi kiểm tra đốc thúc pháo binh chuẩn bị. Nó không hút thuốc, nhưng hôm nay nó cầm lon thuốc Đại tiền môn ở tay này, tay kia cầm bật lửa thứ như chày giã gạo. Nó đi lựa mặt mà chìa lon. Nguyễn Khánh Toàn tay ăn hút thuốc lá Trung quốc như lân thấy pháo. Nó mở hộp lấy một điếu ngậm rồi chìa mồm ra. Thằng Thọ đánh bật lửa một cái ‘bang’. Đứng xa thấy thằng Toàn gật đầu. Thọ đi đến chỗ thằng Huy, ce petit – thằng nhỏ này bợ hộp thuốc. Lê Đức Thọ cũng dánh bật lửa một cái ‘bang’. Thằng Huy khoát mồi lửa, chưa đốt thuốc, có lẽ nó đang còn tìm lời văn ‘ mao nhiều’. Ở một góc phòng, thằng Hà Huy Giáp đứng, Lê Đức Thọ tới, nói cái gì, thằng Giáp nghiêm sắc mặt, gật gật đầu.”

Ba vị ấy được Lê Đức Thọ coi là ba tay có lý luận và mời – biểu- lên tiếng. Mà trời ơi, dướI triều đại Hồ Chí Minh ai được Lê Đức Thọ để ý, có cảm tình là má thằng đó đẻ ra nó đêm rằm tháng bảy.

“Tao nói cho mày nghe nha, Bùi Công Trừng nói tiếp, về chuyện lão Hồ Chí Minh. “Tao nghe thằng Thọ đang âm mưu lật đổ ông già và lấy Nguyễn Chí Thanh thay. Ông lão chỉ còn làm người chuyên nghiên cứu lý luận Mác Lê Nin. Chuyện nước giao Nguyễn Chí Thanh. Việc đảng statuque Lê Duẩn. Cái thằng tự nhiên lại muốn làm Khổng tử này, khó lật đổ nó lắm. Vì nó có công trạng ở Nam Bộ, và mấy bà má ôm nó chum chủm trong lòng. Mày coi, coi có tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính mến của chúng ta bận đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị, mà quay mặt ra sân. Có lỗ tai tự nhiên phải hứng lấy những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá quay vô, đưa tay để nói, thì thằng Thọ lễ phép bắc lại:

” Bác hãy để cho anh em người ta nói đã mà!’ Tao đếm lão Hồ đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông già cũng cho hội nghị nghe ông nói ca dao bằng tiếng khóc:

Khi thương trái ấu cũng tròn

Khi ghét bồ hòn cũng méo.”

Và ông nói xụi lơ:

“Thấy lợi, người ta cho tên lửa vô, thấy bất lợi, người ta rút ra. Có chi mà!”

Bùi Công Trừng nói với tôi như vậy. Còn Ung Văn Khiêm kể:

Trước khi vào hội nghị, tao có tranh thủ nói riêng với ông cụ là tao sẽ không đưa ra cái nháp bản tuyên bố chung của tao và Novotny cho ông cụ yên tâm. Vì trong bản thảo ấy, ông cụ có thêm mấy chỗ, còn nguyên từng chữ của Mr. Ho Chi Minh rành rành. Tao nghĩ bản thảo ấy đưa ra không phân bua gì cho tao mà chỉ làm thớt cho Sáu Thọ băm ông cụ.”

Và mày coi, thằng thủ trưởng khoa giáo của mày ( Tố Hữu) khi tao đứng tại chỗ phát biểu ý kiến, thằng Huy đi ngang qua, nó phun nước miếng vào đoạn tao nói chủ trương hòa bình là trung thành với Lê Nin. Tao mỉm cười bụng nói: A! Thằng nhỏ, mày dám đái đầu ông Xá!’ Hội nghị 9 này có thông qua cái nghị quyết 9 và mấy anh nói là cũng trên 10 ủy viên trung ương không bỏ thăm.

Anh Khiêm lộ bí mật:

– Tao hỏi mí ông cụ có bỏ thăm không. Ông cụ làm thinh. Nghị quyết khai trừ 4 tên: Ung văn Khiêm, Nguyễn Văn Vinh, Bùi Công Trừng, Lê Liêm (329).

5. Chính sách kìm kẹp kinh tế miền nam

Nguyễn Văn Trấn tố cáo Võ Nguyên Giáp chủ trương ngăn chận đà phát triển kinh tế miền nam. Võ Nguyên Giáp không cho kinh tế miền nam lên mạnh mà miền bắc và miền trung tụt lại sau. Ông viết rằng: chính sách này dùng nhiều biện pháp làm rối loạn nền kinh tế và khiến cho nó trì trệ và làm được việc mà đàng ngoài mong ước, miền nam nghèo đi để đuổi kịp miền bắc ( 235).

6. Cộng sản phá hoại núi rừng

Nguyễn Văn Trấn là người duy nhất tố cáo bọn cộng sản đầu sõ cướp đoạt tài sản quốc gia. Chúng phá hoại núi rừng để bán gỗ cho ngoại quốc lấy tiền bỏ túi. Bùi Công Trừng đã nói với Nguyễn Văn Trấn như sau:

“Chúng nó cũng mấy thằng ấy, cũng những chính sách ấy, cai trị 17 triệu dân thì dân đã nghèo sát đất, không đầy 15 năm, hai cái rừng Việt Bắc và Tây Bắc bị cạo trọc lóc. Bây giờ ở miền nam,, cũng đào kép ấy( même acteurs), hải kịch ấy (même comédie) chưa chi đã giành đất Ban Mê Thuột, của Đà Lạt và Sông Bé thì chúng nó sẽ đua với miền bắc 15 năm, miền nam chỉ cần ba năm thì cũng trơn lu như mu bà bóng cho mày coi “(230).

Hồi ký của Nguyễn Văn Trấn rất có giá trị về lịch sử và văn chương. Những tài liệu ông trình bày là những tài liệu quan trọng. Có những tài liệu chưa ai nói đến mà ông là người đầu tiên đưa ra ánh sáng. Những người khác viết hồi ký là để nói về cá nhân, còn ông viết là vì tổ quốc, là để tố cáo tội ác của cộng sản trước quốc dân, đồng bào. Những lời phê phán của ông rất mạnh mẽ và rất đúng. Ngòì bút của ông rất sắc bén và lập trường của ông dứt khoát. Ông là người trung trực và can đảm. Ông tiêu biểu cho lớp trí thức miền nam ngay thẳng, thành thực và yêu nước. Nghệ thuật kể chuyện của ông rất vững vàng, lời văn tự nhiên, thuần túy văn phong miền nam, rất thú vị, và rất đáng yêu.

(Trich Nguyễn Thiên Thụ, VĂN HỌC HIỆN ĐẠi tập 2,Gia Hội 2006)

Nguyễn Văn Trấn Và Quyển Sách “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội”

Tháng 9 năm 1995, một sự kiện lạ lùng đã xảy ra tại Việt Nam. Đó là quyển sách “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội” của ông Nguyễn Văn Trấn được in và bán công khai. ở một quốc gia tôn trọng quyền tự do ngôn luận, nếu sự kiện này xảy ra, có lẽ không ai lấy làm ngạc nhiên. Nhưng ở Việt Nam, quả là một việc lạ.

Vì ai cũng biết, hệ thống kiểm soát sách báo và truyền thông của chế độ độc tài Việt Nam vô cùng chặt chẽ và gắt gao. Một quyển sách, với nội dung được cơ quan tối cao của đảng cộng sản đánh giá là “rất phản động, rất độc hại” và sau đó bị Trương Tấn Sang, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh, ký một quyết định “Mật” cấm lưu hành và tịch thu (xem Liên Minh tháng 01/1996), lại có thể lọt qua được hệ thống kiểm duyệt để phát hành công khai, lại là một chuyện lạ.

Trước khi đánh giá tại sao chuyện lạ này có thể xảy ra, thiết tưởng cần nói qua về nội dung của cuốn sách và tác giả, để hiểu tại sao nhóm cán bộ phụ trách thẩm định cuốn sách này, trong văn thư mật gởi Đỗ Mười, Đào Duy Tùng, Lê Khả Phiêu, ngày 30/10/95, đã đáng giá rằng : “đây là một cuốn sách có nội dung rất phản động, rất độc hại vì nó vu khống, bêu xấu, chửi bới, lên án gay gắt sự lãnh đạo của Đảng ta một cách toàn diện (cả chính trị, kinh tế và văn hóa, văn học) và “có tính hệ thống” (cố nêu sai lầm này tiếp sai lầm khác trong các thời kỳ và có liên hệ mật thiết với nhau), nó bộc lộ một thái độ bất mãn rất cay cú, trắng trợn, nghĩa là “ăn thua đủ” (nói theo người Nam Bộ) với Đảng ta và chế độ ta”.

Ông Bảy Trấn, Hai Cù Nèo: Ông Nguyễn Văn Trấn, còn được gọi là Bảy Trấn, sinh năm 1914 tại Chợ Đệm thuộc làng Tân Kiên, huyện Bình Chánh, tỉnh Long An (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh). Xuất thân từ một gia đình địa chủ được coi là khá giả, ông được gởi lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký (1927). Năm 1930, sau khi thi đậu tú tài phần nhất, ông bỏ học và bắt đầu hoạt động cách mạng chống lại thực dân Pháp.

ở thời điểm đó, theo lời tự thuật, ông đã chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi tư tưởng của cụ Phan Chu Trinh và ông Nguyễn An Ninh. Nhưng khi phong trào cộng sản bộc phát mạnh ở khắp nơi, người thanh niên Nguyễn Văn Trấn đã tham gia vào đảng cộng sản, với sự tin tưởng rằng “cách mạng vô sản thế giới sẽ gióng trống phất cờ giải phóng cho dân tộc yếu hèn”.

Từ đó, Nguyễn Văn Trấn lao vào cuộc đấu tranh với tư cách là một đảng viên đảng cộng sản. Trong hơn 40 năm hoạt động cho tới lúc về hưu vào năm 1976, Nguyễn Văn Trấn đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong guồng máy đảng cộng sản như Chính Ủy Bộ Tư Lệnh khu 9 và Bí Thư Khu Ủy, Đại Biểu Đại Hội Đảng lần thứ hai, Giáo Sư trường Nguyễn Ái Quốc và sau đó trường Đại Học Nhân Dân tại Hà Nội, Vụ Phó Ban Tuyên Huấn Trung ương.

Sau khi về hưu, ông cộng tác với nhiều tờ báo tại Việt Nam, như tờ Tuổi Trẻ, với bút hiệu Hai Cù Nèo, bằng những bài viết châm biếm vạch ra những yếu tố tiêu cực, xấu xa của chế độ xã hội chủ nghĩa. Ông cũng viết nhiều sách khảo cứu, tự thuật như Chúng Tôi Làm Báo (1977), Chợ Đệm Quê Tôi (1985), Chuyện Trong Vườn Lý (1988), Trương Vĩnh Ký, Con Người và Sự Thật (1994).

Năm 1995, ông viết tập “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”. Quyển sách lọt qua vòng kiểm soát của Đảng và được bày bán gần như công khai. Chỉ trong vòng một tháng, hơn 10.000 cuốn sách phát hành hết sạch và ở khắp nước ai cũng bàn tán về những sự kiện được nêu lên trong “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”.

Thấy được tầm tác hại của quyển sách, Trương Tấn Sang, theo lệnh của Bộ Chính Trị, ra chỉ thị cấm lưu hành và tịch thu. Trong khi đó, mặc dù bị đánh giá không còn đủ tư cách là đảng viên, nhưng Nguyễn Văn Trấn vẫn chưa bị khai trừ hay bị thi hành kỷ luật, vì theo báo cáo mật gởi Bộ Chính Trị, nhóm công tác viên đề nghị “Để không gây dư luận xôn xao trước đại hội 8, nên chưa thi hành kỷ luật khai trừ vội”.

Điều đó có nghĩa là, bản án dành cho Nguyễn Văn Trấn vẫn treo ở đó, chờ có cơ hội tốt Đảng sẽ thi hành.

“Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”, hồi ký chính trị của một đảng viên cộng sản kỳ cựu:

“Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội” là một cuốn sách dày 544 trang, được tác giả Nguyễn Văn Trấn viết như một loại hồi ký chính trị, nói về cuộc đời của chính mình, những bước thăng trầm của tác giả trong khoảng 50 năm “làm cách mạng” và những trăn trở của ông trước hiện tình đất nước.

Trước hết, quyển sách được viết như một lời sám hối của một người cộng sản phản tỉnh, như tiếng thét phẫn nộ của một người dân trước những bất công, phi lý của đời sống và như một bản án lệnh dõng dạc vạch tội đảng cộng sản Việt Nam.

Tại sao tác giả lấy tựa đề “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội” ? Mẹ ở đây là là người sinh ra mình, Mẹ còn là biểu tượng cho cội nguồn, cho tổ quốc. “Viết cho Mẹ” của Nguyễn Văn Trấn dường như để gởi một thông điệp đến cho tất cả những ai, trong đó có nhóm lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam, đã quên mất mình từ đâu mà ra, quyền bính do đâu mà có.

Đoạn mở đầu, tác giả đã nhắc đến việc Khổng Tử nói “đàn bà khó dạy” và Lỗ Tấn tự hỏi : “Không biết khi nói đàn bà khó dạy, Khổng Tử có kể mẹ ông vào đó hay không?” Thái độ coi thường nguyện vọng của người dân của tập đoàn lãnh đạo đảng cộng sản được Nguyễn Văn Trấn xem như một người kinh thường mẹ đẻ ra mình.

Trong một lá thư gởi ra ngoài nói về tác phẩm của mình, Nguyễn Văn Trấn viết, vẫn bằng lối khôi hài chua chát: “Mọi việc ở đời đều phụ thuộc vào dân và dân thì phụ thuộc vào lời nói. Mà hỡi ôi, ở Việt Nam nay câu nói của dân gian vẫn còn có giá trị “Ngắn cổ kêu chẳng thấu trời”.

Nguyễn Văn Trấn không kéo cổ dân cho nó dài ra, mà chỉ làm một con cóc khô kêu gào cho”Thượng Đế Đảng” chớ có quên động cơ thành lập Đảng là “Đem lại tự do bình đẳng lại cho nhân dân”.

Trong tiếng kêu gào thay cho dân đen thấp cổ, bé miệng, Nguyễn Văn Trấn hướng về Quốc Hội, vì dù muốn dù không, đây cũng là cơ chế được xem là đại diện cho tiếng nói nhân dân, là nơi thông qua cái bản hiến pháp trong đó những quyền tự do căn bản của con người, như quyền tự do ngôn luận, báo chí, được long trọng công nhận. Hướng về nơi mang danh nghĩa là đại diện cho nhân dân để đòi quyền cho nhân dân, Nguyễn Văn Trấn muốn vạch trần bản chất mỵ dân của chế độ mà ông đang sống.

Bằng thể loại thuật chuyện như nói, pha lẫn khôi hài và châm biếm, toàn bộ quyển sách phản ảnh sự cay độc của tác giả trong cách chỉ trích tập đoàn lãnh đạo cộng sản và những sai lầm liên tục của Đảng cộng sản Việt Nam. Nội dung của quyển sách nhắm vào ba điểm chủ yếu :

1) Những sai lầm và tội ác của đảng cộng sản Việt Nam:

Qua từng thời kỳ của lịch sử, ông Nguyễn Văn Trấn đã vạch ra nhiều sai lầm là tội ác của đảng cộng sản Việt Nam. Trong thời kỳ cải cách ruộng đất tại Miền Bắc, quyển sách nêu lên nhiều bằng chứng cho thấy sự độc ác của chế độ.

Theo ông, vì rập theo sự chỉ đạo của Mao Trạch Đông và cúi đầu vâng lệnh cố vấn Trung Quốc, đảng cộng sản đã giết hại nhiều người vô tội trong vụ cải cách này, thậm chí dứt tình và đối xử độc ác với những đồng chí hôm qua của mình, làm tan nát tình làng nghĩa xóm. Cũng trong giai đoạn này, cuộc chỉnh huấn và cải tạo trí thức Miền Bắc đã làm cho nhiều người chết hay thân tàn, ma dại.

Quyển sách đã kết luận rằng “thật ra chỉnh huấn làm cho người cộng sản ngây thơ ngày xưa học rồi thấy mình “chẳng ra con người” nữa; chỉnh huấn là sáng tạo kỳ quái, là biểu hiện cường bạo của Mao, bậc vua chúa cách mạng ở phương Đông”.

Đối với vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, quyển sách ca ngợi những người như Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang xứng đáng là những kẽ sĩ Việt Nam, đã biểu hiện khí tiết của mình trước cường quyền và so sánh tòa án của chế độ như là một “tôn giáo pháp đình của giáo hội thời trung cổ”, xét xử tùy tiện, vô luật lệ. Gần đây, trước đòi hỏi phải xét lại vụ án này, Nguyễn Văn Trấn phê phán thái độ ngoan cố của lãnh đạo Đảng, không chịu sửa sai, giải oan cho những kẻ vô tội, mà “lại cứ gào

: đây là vụ án chính trị, vụ án đã qua, bọn Nhân Văn đã nhận tội, không nên nhắc tới nữa,…”.

Quyển sách cũng đưa ra một số sự kiện lịch sử, trong vụ án xét lại chống đảng vào thập niên 60. Theo ông Nguyễn Văn Trấn, Lê Đức Thọ đã thao túng Hội Nghị Trung ương lần thứ 9 của đảng cộng sản vào năm 1963, vô hiệu hóa ông Hồ Chí Minh, để kéo đảng cộng sản Việt Nam chống chủ trương xét lại của Liên Xô. Sau vụ này, như chúng ta đã biết, là hàng loạt vụ bắt bớ, thanh trừng đã xảy ra.

Đối với việc thống nhất đất nước từ 1975, theo ông Nguyễn Văn Trấn, là tham vọng của nhóm lãnh đạo Bắc Hà muốn thống trị miền Nam, không muốn cho miền Nam được phát triển. Nó đã gây ra tai họa lớn cho Miền Nam, làm cho Miền Nam trượt dốc băng để “đuổi kịp Miền Bắc” và cùng nhau ăn độn ! Ngược lại với đường lối cưỡng ép này, ông Nguyễn Văn Trấn đưa ra đề nghị thành lập một Liên Bang Việt Nam gồm hai miền Nam-Bắc, với một chế độ tự trị tại miền Nam.

Đánh giá về giai đoạn hiện nay, từ khi Hà Nội triệt hạ Câu Lạc Bộ Kháng Chiến tại miền Nam, tịch thu các quyền cơ bản của con người, theo lời ông Nguyễn Văn Trấn, chế độ độc tài đang muốn đàn áp các tiếng nói của lương tri như Linh Mục Chân Tín, ông Nguyễn Ngọc Lan, ông Đỗ Trung Hiếu, hoặc bắt giữ các gương mặt tiêu biểu của truyền thống dân chủ như ông Nguyễn Hộ, khai trừ khỏi đảng các văn nghệ sĩ như Bùi Minh Quốc, Dương Thu Hương và các nhà cách mạng lão thành như ông Lê Hồng Hà, ông Nguyễn Trung Thành v.v…

2) Lên án việc đàn áp tôn giáo và kêu gọi trở về với tôn giáo:

Là người đi theo một chủ nghĩa vô thần trên 40 năm, sự hồi đầu của Nguyễn Văn Trấn được nhìn thấy rõ trong những phê phán của ông về chính sách đàn áp tôn giáo của các đảng cộng sản, về tình trạng mất mát các giá trị thiêng liêng của xã hội Việt Nam như luân lý, đức tin, điều thiện, thái độ bao dung và ánh sáng của tôn giáo trong tâm hồn con người.

Trang 398, ông kết luận rằng “tái lập những giá trị tôn giáo là con đường duy nhất để giải quyết cuộc khủng hoảng thiêng liêng hiện thời”. Trong quyển sách, ông trích rất nhiều bài giảng của linh mục Chân Tín, để phần nào muốn nói lên sự sám hối của ông và ý muốn trở về với những giá trị tinh thần và tôn giáo, những giá trị đã và đang bị dập vùi một cách tàn bạo dưới chủ nghĩa vô thần cộng sản.

3) Đòi hỏi những quyền tự do căn bản của con người, đặc biệt là quyền tự do báo chí:

Trong phần 3 và cũng là phần cuối của quyển sách, Nguyễn Văn Trấn kết thúc bằng một kiến nghị gởi Quốc Hội cộng sản, trong đó có đoạn viết

“Tôi lưu ý Quốc Hội, sự giả đò không chăm sóc, sự giả đò quên các quyền căn bản của con người, là nguyên nhân gây ra đau khổ cho Tổ Quốc, cho nhân dân, là nguyên nhân gây ra sự đồi bại của những kẻ làm ông nhà nước”.

Ông yêu cầu được tự do ngôn luận và tự do báo chí, vì theo ông, “Hiện thời người trong nước ta, đang khao khát nhơn quyền và các quyền tự do dân chủ. ,

Nhà làm báo, thì nghĩ theo nhà báo : Nếu nói nhơn quyền là một cái la bàn, thì kim chỉ nam là tự do ngôn luận, tự do báo chí và in sách.”

Ông kết thúc quyển sách bằng câu “Tôi chờ Quốc Hội trả lời”. Nhưng sự chờ đợi này, chính ông cũng biết là vô ích. Ông chờ đợi một điều khác, đó là phản ứng của quần chúng, của Đảng. Và ông đoán đúng. Quốc Hội vẫn im lặng như mấy chục năm qua như một gã câm chỉ biết gật đầu.

Quần chúng phấn khởi vì có một người như ông, đi theo đảng nhiều năm, dám nói lên những điều mà quần chúng bình thường dấu tận đáy lòng, không dám nói ra. Đảng nổi giận vì có người dám nhục mạ Đảng. Những sự việc xảy ra tiếp theo, như ra lệnh cấm lưu hành, tịch thu sách, răn đe ông Nguyễn Văn Trấn và dằn mặt các đảng viên khác, chỉ là một tiến trình logic của thể chế độc tài tại Việt Nam, không ai ngạc nhiên, kể cả ông Nguyễn Văn Trấn.

Sự kiện quyển sách “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội” của ông Nguyễn Văn Trấn được bày bán công khai, rồi sau đó bị cấm đoán và tịch thu, phản ảnh một số hiện trạng tại Việt Nam.

Trước hết, qua nội dung của cuốn sách, chúng ta có thể đánh giá rằng càng ngày càng có nhiều người từng phục vụ cho đảng cộng sản, nhìn ra được bản chất độc ác và những chính sách sai lầm tai hại của Đảng đã là nguyên nhân của tình trạng lụn bại của đất nước Việt Nam hôm nay. Những người này, tham gia vào đảng cộng sản với lý tưởng yêu nước, yêu dân.

Ngày nay, họ nhận chân được rằng đảng cộng sản không phục vụ cho lý tưởng đó, mà ngược lại còn làm hại nước, hại dân. Sự phản tỉnh của những người này đã thúc đẩy họ nói lên, viết ra những lời cảnh tỉnh, những bản cáo trạng dành cho đảng cộng sản Việt Nam. Điều chắc chắn là họ sẽ bị bịt miệng, bị đàn áp, để lãnh đạo đảng hủy diệt mọi mầm mống chống đối trong nội bộ đảng.

Nhưng một quyển sách như vậy, lọt qua được hàng rào kiểm soát cũng là một sự kiện đáng quan tâm. Qua nhận định nội bộ của Đảng, “việc để cho cuốn sách độc hại này được in và bán là một sơ hở, thiếu sót của cơ quan tuyên huấn và cơ quan quản lý xuất bản, quản lý ấn loát ở TP Hồ Chí Minh” và đưa ra chỉ thị là phải có biện pháp xử lý đối với những người có trách nhiệm trong việc in ấn và phát hành.

Việc này làm cho chúng ta nhớ lại vụ tờ báo Truyền Thống Kháng Chiến bị cấm không cho in và phát hành, nhưng sau đó được cơ sở ấn loát của nhà nước tại các tỉnh Miền Nam in và phổ biến.

Tại Việt Nam, đảng và nhà nước cộng sản kiểm soát mọi phương tiện ấn loát truyền thông, từ giấy, nhà in, đến nhà xuất bản. Nhưng những tác phẩm như “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội” vẫn in và bán được, tức là cần phải có sự đồng tình, giúp đỡ của chính cán bộ, đảng viên trong guồng máy sản xuất và kiểm soát sách báo.

Chính vì sợ “bứt dây, động rừng”, nên lãnh đạo đảng cộng sản chưa dám có biện pháp mạnh với ông Nguyễn Văn Trấn. Sự kiện này cũng phản ảnh tình trạng phân hóa, giao động cùng cực trong chế độ Hà Nội và chắc chắn xu hướng cổ võ cho một nước Dân Chủ Tự Do, tôn trọng Nhân Quyền đang ngày một lên cao trong hàng ngũ đảng viên cộng sản Việt Nam.

Đây là một ngòi nổ vô cùng nguy hiểm, nó có khả năng châm ngòi cho một ngọn núi lửa, như sự so sánh của ông Nguyễn Hộ, để đốt tan mọi độc tài, áp chế tại Việt Nam.

Nguyễn Đức Quang.

– Nhận định về  Nguyễn Văn Trấn của những người không Cộng Sản :

http://www.greenspun.com/bboard/q-and-a-fetch-msg.tcl?msg_id=00CKFs Vài chuyện thật xảy ra trong 9 năm kháng chiến 45-54 Theo Hứa Hoành.

“Theo “Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc” của Nguyễn Long Thành Nam, trang 34, danh sách

“Lâm Ủy Hành Chánh” cho chúng ta thấy hầu hết là những người CS như :

– Trần Văn Giàu, Chủ tịch (CS).

– Dương Bạch Mai, Thanh tra chính trị miền Đông (Công an CS).

– Nguyễn Văn Tạo, Nội vụ (CS).

– Nguyễn Văn Tây, Thanh tra chính trị miền Tâỵ

– Các ủy viên : bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (mới ly khai với Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất ngày 22/8/45 để gia nhập Việt Minh).

– Từ Bá Đước, Đảng Dân Chủ, lãnh tụ Thanh Niên Tiền Phong ở Trà Vinh.

– Kỹ sư Ngô Tấn Nhơn, Dảng Việt Nam Độc Lập của Hồ Văn Ngà, ly khaị

– Kỹ sư Hoàng Đôn Văn thuộc Tổng Công Đoàn, thiên tả.

– Sinh viên Huỳnh Văn Tiễng (CS)

“Lâm Ủy Hành Chánh” lập Sở Công an, giao cho Nguyễn Văn Trấn (tác giả “Viết cho mẹ và quốc hội”) làm giám đốc, gọi là “Quốc Gia Tự Vệ Cuộc”. Lực lượng này không lo đánh Pháp, mà nhận chỉ thị của Trần Văn Giàụ Nguyễn Văn Trấn theo đó di khủng bố, bắt cóc, ám sát, thủ tiêu các thành phần lãnh đạo, các thân hào nhân sĩ có uy tín, thâm chí cả những người làm việc cho Pháp trước kiạ Những tên dao búa chyên đâm thuê chém mướn như Tô Kỳ, Ba Nhỏ, Kiều Đắc Thắng, Kiều Tấn lập…là tay sai trực tiếp của “Lâm Ủy Hành Chánh”, để thi hành các mật lịnh. Dân chúng đang say sưa trước cao trào độc lập tự do, khi thấy cờ đỏ sao vàng xuất hiện, họ bàng hoàng, nhưng rồi cũng tự an ủi :

– Ai lãnh đạo cũng được, miễn họ chống Pháp để giải phóng quê hương…..

 Thật ra Phạm Văn Bạch chỉ giữ hư vị, mọi quyền hành vẫn nằm trong tay cán bộ CS. Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trấn sai mật vụ núp dưới danh nghĩa Thanh Niên Tiền Phong, Tự Vệ Cuộc đi lùng bắt, ám sát, khủng bố các lãnh tụ quốc gia, tôn giáo là những người vừa mới hợp tác với họ, được họ mời giữ chức vụ này, chức vụ nọ trong Ủy ban Hành chánh. Chỉ nội trong 2 tuần lễ, từ 25/8/45 tới 7/9/45, mà Lâm Ủy Hành Chánh khủng bố, ám sát, tiêu diệt các nhân vật trong Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất mà cách đó không lâu CS năn nỉ xin nhường quyền lãnh đạọ Tình trạng trở nên ngột ngạt. Không khí hoang mang, nghi kỵ bao trùm. Khối đoàn kết quốc dân bị rạn nứt. Tiềm lực chiến đấu bắt đầu suy yếụ CS tiếp tục ra lịnh ám sát, bắt cóc, thủ tiêu các nhân vật sau đây : Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (nhưng thất bại), Vũ Tam Anh (tức Nguyễn Ngọc Nhan) bị công an của Trần Văn Giàu là Lý Huê Vinh bao vây bắt tại Xóm Thơm (không thành công), nhưng CS đã thành công trong việc tới nhà ông Bùi Quang Chiêu để hạ sát toàn thể gia quyến 1 cách dã man.

…. Mới chiếm được chính quyền, Lâm Ủy Hành Chánh vội vàng lập Quốc Gia Tự Vệ Cuộc, giao cho Nguyễn Văn Trấn đi lùng bắt, ám sát, khủng bố, cho mò tôm… Đó là những người mới liên hiệp với họ vài hôm trước. Phạm Hùng (từ Côn Đảo mới về), Kiều Đắc Thắng, Kiều Tấn Lập,…được lịnh lùng sục khắp nơi, bắt các nhân sĩ, lãnh tụ các đảng phái, tôn giáo, thậm chí đến những viên chức hội tề đã về hưụ..đem thủ tiêu rồi chụp mũ họ là “Việt gian”.

–http://www.vietbaoonline.com/print.asp?nid=40397 Bảng Tường Trình Về Buổi Nói Chuyện Về Nhân Quyền Và Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam Của Hòa Thượng Thích Giác Lượng.

“Theo ông, như lịch sử tại Liên bang Sô Viết và Nam Tư đã cho thấy, chỉ có người CS mới diệt được CS mà thôi, điều quan trọng là hiện nay, chủ nghĩa CS không còn là một hấp dẫn đối với một số người ngây thơ như trước đây, và sự thật về sự tàn bạo của chế độ CS đã không thể được che dấu và bưng bít được đối với đại đa số thành phần đảng viên CS như trước kia, bằng chứng là đã có rất nhiều người bày tỏ sự phản tỉnh rất mạnh mẽ, như Nguyễn văn Trấn (từng được gọi là hung thần Chợ Đệm 7 Trấn với thành tích giết người, những chiến sĩ không CS, không biết gớm tay), rồi Nguyễn Hộ, Dương thu Hương, rồi Trần Độ, Hoàng Minh Chính, rồi Hà Sĩ Phu, Nguyễn thanh Giang, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự…, rồi thành phần sinh viên ra báo chui Thao Thức, Đứng Dậy, rồi những vụ nổi dậy của dân chúng các vùng Thái Bình, Kim Nổ, Đồng Nai …”

-http://tudongonluan.comuv.com/16/thamkich.html  Tự Do Ngôn Luận – Số 16

Nguyễn Văn Trấn trong thời kỳ Cởi Trói 1987 gồm nhiều văn nghệ sĩ đã vượt trên nổi sợ của mình để đưa ra các tác phẫm lên án chế độ:

” Hồi năm 1987, sau nhiều năm cầu xin, cuối cùng thì “Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ” được thành lập, do nhà cách mạng lão thành Nguyễn Hộ làm chủ nhiệm. Câu lạc bộ đã phát huy tinh thần tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, và dù không được phép vẫn cho ra báo “Truyền Thống Kháng Chiến” với 2 ngàn bản in. Câu lạc bộ đã dám thảo luận những vấn đề chính trị rất hóc búa, như yêu cầu Bộ chính trị và Ban bí thư kiểm điểm công việc của mình trước Trung ương, yêu cầu thi hành kỷ luật những bộ trưởng, thứ trưởng phạm sai lầm để cho 10 triệu dân miền Bắc bị đói năm 1987, yêu cầu Trung ương đừng “độc diễn” khi Quốc hội bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng mà để cho Quốc hội được bầu cử dân chủ… Đảng cầm quyền tức giận, bắt đầu đàn áp những người tham gia Câu lạc bộ thì ông Nguyễn Hộ – người đảng viên với 50 tuổi đảng – đã tuyên bố ra khỏi ĐCSVN (1990).

Trong năm 1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố “cởi trói” cho văn nghệ sĩ – sự thật là chỉ tạm thời nới lỏng dây trói thôi – thì giới trí thức, văn nghệ sĩ, các nhà báo đã biết nhân cơ hội đó vươn lên. Nhà văn Nguyên Ngọc đã đưa ra bản “Đề cương đề dẫn thảo luận ở hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học”, một lần nữa đặt lại quan hệ giữa văn học và chính trị, phản đối dung tục hoá mối quan hệ này, phản đối sự “tuyệt đối hoá chính trị, tuyệt đối hoá sự chi phối tất yếu của chính trị đối với văn học” (nguyên văn), nói một cách khác văn học đòi “tự do”, đòi thoát khỏi sự đè đầu cưỡi cổ của “đảng tính”. Thật ra cũng không khác mấy yêu cầu đòi Đảng “trả văn nghệ cho văn nghệ sĩ” mà Trần Dần đã đưa ra hồi cuối năm 1954 đầu năm 1955, khởi đầu cho trào lưu “Nhân Văn-Giai Phẩm”. Một phong trào sáng tác mạnh mẽ đã được dấy lên: nhiều tác phẩm vang dội một thời đã xuất hiện, như “Thời Xa Vắng” (1986) của Lê Lựu, “Tiểu Thuyết Vô Đề” “Thiên Đường Mù” và “Bên Kia Bờ Ảo Vọng” (1987) của Dương Thu Hương, “Ly Thân” (1987) của Trần Mạnh Hảo, “Lời Khai Của Bị Can” (1987) của Trần Huy Quang, “Cái Đêm Hôm Ấy Đêm Gì?” (1988) của Phùng Gia Lộc, “Tiếng Đất” (1988) của Hoàng Hữu Cát, “Mùa Lá Rụng Trong Vườn” (1985) của Ma Văn Kháng, “Tướng Về Hưu” của Nguyễn Huy Thiệp… Văn thơ của Nguyễn Minh Châu, Trần Vàng Sao, Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Bùi Minh Quốc, Thanh Thảo, hội hoạ của Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Bửu Chỉ, kịch nghệ của Lưu Quang Vũ, Tất Đạt… đã để lại những dấu ấn đẹp cho thời kỳ đó. Những đổi thay của báo chí cũng khá tích cực, nổi bật là tuần báo “Văn Nghệ” dưới thời tổng biên tập Nguyên Ngọc, “Sông Hương” với tổng biên tập Tô Nhuận Vĩ, “Lang Bian” với tổng biên tập Bùi Minh Quốc, “Tuổi Trẻ” với tổng biên tập Vũ Kim Hạnh. Cũng cần nhắc đến vai trò của ông Trần Độ, hồi đó là trưởng Ban Văn nghệ Trung ương đã có công thuyết phục Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Bộ chính trị ra nghị quyết 05 (công bố đầu tháng 12-1987) với tinh thần nới rộng tự do cho văn nghệ sĩ, phần nào đã có tác dụng mở đường cho các tác phẩm tốt ra đời. Về ấn phẩm bí mật thì phải kể đến tờ “Diễn Đàn Tự Do” do Giáo sư Đoàn Viết Hoạt chủ trương. Một thời gian sau thì đảng cầm quyền hoảng sợ, lại siết chặt dây trói, lại bày ra “Vụ án Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ”, đưa vào tù các ông Tạ Bá Tòng, Hồ Hiếu, Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Đình Mạnh… cuối cùng là ông Nguyễn Hộ, “Vụ án Lang Bian” với việc khai trừ khỏi ĐCS và quản chế nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và đàn áp Hội Văn nghệ Lâm Đồng. Ông Nguyên Ngọc, bà Vũ Kim Hạnh đều bị gạt ra khỏi cương vị tổng biên tập các báo họ đã phụ trách. Các nhà tu hành từng ủng hộ ĐCS trong cuộc chiến tranh miền Nam, đến khi họ cất tiếng nói chính nghĩa cũng bị đàn áp, tù đày, quản chế, như Linh mục Chân Tín, ông Nguyễn Ngọc Lan… Đó là chưa nói đến vụ án Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt với mức án cực kỳ nặng.

Trong tình hình vô cùng khó khăn đó, cuộc đấu tranh đòi dân chủ hoá vẫn không ngừng tiến tới. Các nhà cách mạng lão thành Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hộ, Lê Giản, La Văn Lâm, Nguyễn Văn Trấn, Ngô Thức, Trần Độ, Nguyễn Văn Đào, Hoàng Hữu Nhân, Lê Hồng Hà, Trần Dũng Tiến, Vũ Huy Cương… đã cất cao tiếng nói chính nghĩa của mình. Ông Nguyễn Hộ đã cho ra tập luận văn “Quan Điểm Và Cuộc Sống”, ông Nguyễn Văn Trấn – tập tạp luận “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”, ông Hà Sỹ Phu (Nguyễn Xuân Tụ) – ba tập sách “Dắt Nhau Đi Dưới Những Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ”, “Đôi Điều Suy Nghĩ Của Một Công Dân” và “Chia Tay Ý Thức Hệ”, Trần Thư – “Người Tù Bị Xử L ý Nội Bộ”, Hoà Thượng Thích Quảng Độ – “Nhận Định Những Sai Lầm Tai Hại Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Đối Với Dân Tộc Và Phật Giáo Việt Nam”, ông Trần Độ – “Hồi K ý”, Tiêu Dao Bảo Cự – “Nửa Đời Nhìn Lại”, Trần Khuê – “Đối Thoại” .. . Nhiều người khác, như Lữ Phương, Nguyễn Kiến Giang, Nguyên Phong Hồ Hiếu, Nguyễn Thanh Giang, Vũ Cao Quận… cũng đã công bố những luận văn, những nghiên cứu của mình để chỉ rõ con đường tất yếu phải dân chủ hoá Đất nước. Cũng chính trong thời gian này, một tờ báo bí mật nhỏ nhắn viết rất hay mang tên “Người Sài Gòn” mà người ta đồ rằng do Ông Già Chợ Đệm Nguyễn Văn Trấn làm. Tờ báo được những người dân chủ đón nhận rất nồng nhiệt. “

Nhận định của Long Điền về nhân vật Nguyễn Văn Trấn:

Quyển hồi ký Viết Cho Mẹ và Quốc Hội viết và in trong nước,sau đo bị nhà nước CSVN ra lệnh tịch thu vì nội dung xấu,chống chế độ.Sau đó quyển sách được in tại Hoa Kỳ, nhà xuất bản Văn Nghệ California năm 1995 gồm 502 trang.Qua quyển hồi ký mà tác giả gởi gấm tâm tình chúng ta hiểu được một số nhận định của Nguyễn Văn Trấn về Cuộc Chiến Việt Nam 1945-1975 mà tác giả là một chứng nhân lịch sử có mặt đầy đủ trong các thời kỳ quan trọng lịch sử:1945-1954-1975.

Lần lượt qua các trang sách ,tôi xin vạch ra các nhận định của Nguyễn Văn Trấn như sau :

1-Việc cho Xuất bản tờ báo Dân Chúng(Le Peuple) (từ trang 34-41):theo chỉ thị của đảng CSVN, Nguyễn Văn Trấn cho xuất bản tờ bào mà không cần phải xin phép và vẫn được nhà in của Pháp in đàng hoàng ngày 27tháng 7 năm 1938 là số báo đầu tiên với giá bán 2 xu /tờ được Biện Lý Cuộc Pháp cho phép lưu hành  chứng tỏ hồi ấy dù cai trị hà khắc nhưng về quyền Tự Do Báo Chí thì thực dân Pháp vẫn hơn chế độ CSVN ngày nay rất nhiều,Nguyễn Van Trấn và Nguyễn Hộ năm 1997 xin phép in tờ bào Cựu Kháng Chiến  (CKC) mà chính quyền CSVN nào có cho mà còn bị theo dỏi ,bắt bớ.

2-Nguyễn văn Trấn khi in báo được 1 năm trong bài báo”Chúng tôi can thiệp ngay đến vấn đề chia đất công điền cho dân nghèo mướn, can thiệp vào vụ dân đói Cà Mau”có những câu như sau:”Chúng tôi kịch liệt phản đối sự giam cầm mấy người đi biểu tình và kêu gào chánh phủ (chính phủ Pháp)hảy có can đảm mà nhìn nhận sự thật để cho người vô tội không bị tù oan…miển thuế cho họ,thả ngay những người bị bắt vô cớ!Bài báo bị mật thám đến hỏi ai là tác giả,Trấn đã mạnh dạn trả lời :”Pháp luật không cho phép nhà đương cuộc hỏi như vậy!”Mọi việc cũng huề ,Trấn có so sánh việc nầy với chế độ của ta (của CSVN)và đề nghị Quốc Hội (CHXHCNVN)xem xét về tự do báo chí với thời kỳ thực dân .(trang 40-41).

3-Bài diển thuyết của Nguyễn Van Trấn tại Hội Quán A.J.A.C(Lương Hữu Báo Chí Nam Kỳ)ngày 30.8.1938 sau đó có đăng lại trên báo Dân Chúng (trang 47-53),trước các ký giả Pháp Việt(có cả Cảnh sát Pháp) người dân Việt Nam thời đó cũng đã có quyền đòi hỏi Dân Chủ Tự Do như sau:

“Thưa các Ngài,

Thưa các bạn,

Đứng trên diễn đàn giờ này để chào các

Ngài và các bạn, tôi vừa được một hân hạnh vừa đặng một sự vui mừng.

Hân hạnh, thay cho nhóm Dân Chúng, một nhóm luôn luôn lấy sự đòi các quyền Tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam làm cái mục đích tranh đấu hằng ngày của mình trong giai đoạn này, trong một cuộc hội hiệp gồm các phần tử, mặc dầu đứng vào địa vị giai cấp khác nhau, thuộc nhiều xu hướng chánh trị bất đồng nhưng trong óc vẫn đồng một tinh thần cao thượng và yêu chuộng tự do….

(Đăng lại trên Dân Chúng số ra ngày 30 Aout 1938).

-Qua đoạn diển văn vừa kể cho chúng ta so sánh quyền Tự Do Ngôn Luận ở thời Thực Dân Pháp vẫn còn cởi mở hơn nhiều so với thời CSVN ngày nay.Kêu gọi Tự Do Ngôn Luận, đòi bảo vệ đất nước là bị tù , đồng thời cũng chứng tỏ cái dủng khí của Nguyễn Văn Trấn đã vơi đi khá nhiều sau mấy chục năm sống trong “Thiên Đàng XHCN”bởi vì sự đàn áp,tù đày của chế độ CHXHCNVN còn ác độc gấp trăm lần chế độ Thực dân Pháp!!!Còn sống được dưới chế độ CSVN thì phải biết sợ và hèn!!!

4-Thời điểm 1945 Hồ Chí Minh chỉ dám nói với dân Việt Nam về Mật Trận Việt Minh (bao gồm mọi thành phần đảng phái tham gia chống thực dan Pháp) mà Hồ ma mãnh dấu nhẹm đảng CSVN để đánh lừa dân chúng.

“Tổ viên của tổ một nầy gồm những tay chánh trực như Bùi Lâm  là người ra sân bay tiển đoàn ta đi Pars dự hội nghị đã kề tai ông cụ (Hồ) mà nói: Đừng có bán nước nghe đồng chí !!!(trang 155)

Bởi vì lúc ấy dù Hồ đã dẹp cái đảng CSVN nhưng với cái tên mới Đảng Lao Động VN nhưng người dân vẫn còn ngờ vực con người CS của Hồ!Sau nầy rỏ ràng Hồ đã nhiều lần đặt quyền lợi của CSQT lên trên quyền lợi Dân Tộc !

-Xuất thân của Nguyễn Văn Trấn là làm tay sai cho Cộng sản ra tay sát hại đồng bào và những nhà ái quốc,nhà kháng chiến không theo CS,nổi bật nhất là nhiều nguồn tin cho rằng ông là người chủ mưu hay là kẻ ra tay giết Tạ Thu Thâu người mà trước đó giúp đở và dạy dổ cho Nguyễn Văn Trấn tại Pháp.(tuy nhiên trong 3 người tình nghi chưa rỏ ai là người ra tay hạ sátTạ Thu Thâu,nhưng kẻ ra lệnh là Hồ Chí Minh). Trấn được mang bí danh là “Hùm Xám Cai Lậy” do những hành động tàn ác trước và sau 1945.

-Hành vi tàn ác của Trấn tại Nam Bộ trước 1945 đã được nhiều nguồn tin công nhận,việc thủ tiêu,mò tôm,trùm bao bố là do Trấn chủ mưu.Sau 1975 Nguyễn Văn Trấn bị thất sũng,bơ vơ không nơi nương tựa,sinh ra bất mản chế độ CS.Nhập bọn với Nguyễn Hộ trong CKC(Cựu Kháng Chiến) để cho ra tờ “Người Sài Gòn” để đòi hỏi Dân Chủ, đòi hỏi quyền lợi bị bỏ quên.Quyển “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội”là một tư liệu quý giá về những điều sai lầm trong guồng máy Cộng Sản từ 1945-1975.Có nhiều tài liệu xác thực trong quyển sách đó kể những tội ác của CSVN mà trong đó Nguyễn Văn Trấn vừa là người tố cáo và cũng là thủ phạm (trong ban CCRĐ).Sau nầy từ 1997 Trấn bị theo dỏi, đe dọa nên không dám làm gì thêm sau khi xuất bản quyển sách “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”[ii].

-Từ việc tố cáo tội ác CSVN sau khi nhận dịnh mình đã sai lầm, đi đến hành động chuộc lại tội lỗi là một giai đoạn dài và đầy chông gai mà không phải người Phản Tỉnh nào cũng đạt được trọn vẹn như Trung Tá Trần Anh Kim đã dám tham gia trong phong trào đấu tranh “Khối 8406” bị tù đày nhưng vẫn cương quyết đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ.

[i] http://kekhopk.com/forums/index.php?showtopic=8571&mode=linearplus Tìm hiểu cái chết của Tạ Thu ThâuTrong vấn đề này, nguồn tư liệu mà chúng tôi hiện có cũng hết sức hạn chế. Sau khi đặt câu hỏi ở Việt Nam, ai đã hạ sát Tạ Thu Thâu và các đồng chí của ông?, ông Hoàng Khoa Khôi cho biết: Sau khi điều tra, chúng tôi biết được ba thủ phạm. Họ đều là những người cộng sản. Người thứ nhất là Kiều Đắc Thắng, trách nhiệm Nghiệp đoàn. Người thứ hai là Nguyễn Văn Trấn, đã từng được đi học tập ở Moscow. Người thứ ba tên là Nguyễn Văn Tây, cựu bộ trưởng chính phủ Trần Văn Giàu. Cần nói thêm rằng nhân vật Nguyễn Văn Trấn được nhắc đến ở đây chính là ông Nguyễn Văn Trấn đã mất ít lâu nay, một người cộng sản phản tỉnh, tác giả cuốn Viết cho Mẹ và Quốc hội được nhiều người ưa thích, trong đó ông vẫn dùng nhiều từ ngữ và luận điệu thô thiển, thậm chí bất nhã, khi nhắc đến Tạ Thu Thâu và những người yêu nước trốt-kít ở Việt Nam.

[ii] http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=print&sid=2723 Nhưng đảng Cộng Sản không thể lấy vải thưa che mắt thánh qua các cuộc bầu cử quốc hội bù nhìn, chỉ là cơ cấu giúp cho đảng Cộng Sản thông qua những đạo luật cướp của, giết người, khủng bố dân lành…quốc hội nầy chỉ là đồng lỏa với đảng cướp mà thôi. Ông Nguyễn Văn Trấn, tự Bảy Trấn, một đảng viên Cộng Sản kỳ cựu, sau nầy phản tỉnh giả, ông đánh lừa nhiều người qua tác phẩm” Thư Cho Mẹ và Quốc Hội”, nói theo từ Việt Cộng là” trớt quớt”; lý do là Mẹ thì già yếu, đâu có làm gì được; còn quốc hội thì bù nhìn, vô quyền, có nói gì cũng vô ích. Thay vì ông lấy tựa đề cuống sách là” thư cho đảng và tổng bí thư” thì có lý hơn. =

Chuong II. C11 Paul Vanuxem. (trang 937-970)

  1. Paul Vanuxem:

Tiểu sử :


Đại Tướng Vanuxem, từng là sĩ quan cao cấp của quân đội Pháp tại chiến trường Bắc Việt cho đến 1954, sau đó thỉnh thoảng vẫn có sang thăm Việt Nam với tư cách một tướng Pháp, thượng khách của Việt Nam Cộng Hòa.
Ông là sĩ quan trừ bị trong quân đội Pháp. Lúc bị động viên ông là giáo sư, đã có bằng tiến sĩ Văn Chương (Docteur ès Lettres), bằng tiến sĩ Toán (Agrégé ès Math.) và bằng tiến sĩ Khoa Học (Agrégé ès Sciences). Ông được Tướng De Lattre de Tassigny gọi sang Việt Nam

như một sĩ quan tùy viên với cấp bậc trung úy. Nhưng khi sang đến Việt Nam ông lại xin tình nguyện ra chỉ huy một đơn vị tác chiến để được ra mặt trận, và xin được phục vụ ở chiến trường Bắc Việt, lúc đó đang thật sôi động. Trong hai năm liền ông được thăng cấp 3 lần, toàn là tại mặt trận. Sau đó ông được gọi về chỉ huy Trường “đào tạo chỉ huy trưởng binh đoàn”, với cấp bậc trung tá, rồi đại tá (lúc bấy giờ được gọi nôm na là “cours tactiques”, tiền thân của trường Chỉ Huy và Tham Mưu của QLVNCH sau nầy). Hầu hết các tướng lãnh của VNCH chúng ta đều xuất thân từ trường nầy.
Ông là một sĩ quan rất bình dân, ăn mặc rất xuề xòa không giống như các sĩ quan Pháp khác, nhưng tất cả các sĩ quan khóa sinh đều rất mến phục ông sau vài ngày nhập trường vì tài giảng dạy của ông cũng như về đức tính của ông.
Sau đó Ông ra coi binh đoàn chiến thuật số 3, hoạt động ở Khu Nam, thuộc lực lượng bộ binh Bắc Việt (Groupement Tactique No 3/ Zone Sud/FTNV). Ông về nước năm 1954 với cấp bậc đại tá và thỉnh thoãng ông vẫn sang VN. Đầu năm 1975 ông có mặt thường trực tại VN và bị cộng sản trục xuất về Pháp khoản tháng 5/75.
Ông qua đời năm 1982, nhưng trước khi nhắm mắt ông vẫn còn nhớ đến VN, nên đã có trao lại cho trung tướng Trần văn Trung Chủ Tịch hội Cựu Chiến Sỉ tại Pháp, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa, một kỹ vật rất quý mà ông đã được Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long trao tặng lúc Ông tháp tùng Tổng Thống Thiệu đáp trực thăng xuống An Lộc trong mùa hè đỏ lửa 1972.
Đặc biệt từ đầu năm l975 Ông Vanuxem đã thường xuyên có mặt tại Sài Gòn, nên ông đã phân tách rất chính xác về những sự kiện, những nguyên nhân và những hậu quả của sự việc “Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử”, chẳng những đối với quốc gia Việt Nam mà còn đối với nước Pháp và cả Thế Giới nữa.
VIỆT NAM CỘNG HÒA BỊ BỨC TỬ
( LA MORT DU VIETNAM ) Vanuxem
THAY LỜI TỰA
Ngày quốc hận 30/4/1975 đã qua đi trên 20 năm rồi.
Trong khoản thời gian 20 năm đó đã có rất nhiều người viết hay nói về những ngày cuối cùng của tháng tư đen lịch sử nầy, và gần đây nhất chúng ta thấy có ông Mac Namara cựu bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, với quyển hồi ký “Nhìn Lại Thảm Kịch và Những Bài Học Việt Nam” (In Retrospect, The Tragedy And Lessons Of Việt Nam). Ông cho tung ra quyển nầy vào đúng lúc cộng sản Việt Nam làm lễ lớn khắp nước ăn

mừng 20 năm ngày mà họ cho là “Đại Thắng Mùa Xuân”, mừng ngày chiến thắng “Mỹ-Ngụy”!
Hồi ký của ông đã để lộ hẳn cái hèn của một chánh khách Mỹ có tầm cỡ, vì ông không biết thẹn là đã có hành động phản bội với đồng minh, vừa bàn giao Việt Nam Cộng Hòa cho bọn cộng sản (nếu không muốn nói là bán đứng), vừa đổ hết trách nhiệm mất nước cho quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa.
Ông đã khóc (nước mắt cá sấu!) khi bị phỏng vấn trên đài ABC, thật tội nghiệp ! có lẽ khóc vì quá mắc cở và vì có quá nhiều mặc cảm tội lỗi trong chiến lược “phải để cho ta bị chiến bại”. Ông không hề khóc cho 58,000 quân nhân Mỹ các cấp dưới quyền ông đã phải bị hy sinh oan uổng cho cái “thuyết domino” mà đến giờ nầy ông mới cho là sai, làm tủi hổ vong linh những người đã bỏ mình cho chính nghĩa chống Cộng của Thế Giới Tự Do (trong thời kỳ còn chiến tranh lạnh) đồng thời làm nhục cả quân nhân các cấp thuộc đủ mọi quân binh chủng Hoa Kỳ đã từng tham gia anh dũng trong cuộc chiến ở Việt Nam.
Dĩ nhiên ông cũng không bao giờ nghĩ đến hay nhắc đến quân dân cán chính miền Nam Việt Nam mà hai đời Tổng Thống Hoa Kỳ vẫn gọi và xem họ là người đồng minh kiên cường trong nhiệm vụ chống Cộng, giữ vững tiền đồn chống cộng của Thế Giới Tự Do ở Đông Nam Châu Á.
Người ta còn thấy rõ cái tồi của ngài Mc Namara là ngài “phải khóc” để được Cộng Sản cấp chiếu khán cho ông qua Việt Nam vào tháng 9/95 nầy (cũng lại là quyền lợi trên hết!) chớ không phải khóc vì trách nhiệm lịch sử của một “kiến trúc sư” về chánh sách của Hoa Kỳ từ thập niên 60 để nướng sống trên 50 ngàn chiến binh Mỹ và trên 3 triệu quân dân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa.
Thật đáng tội nghiệp cho một người khoác áo chánh khách Mỹ có tên tuổi như ông mà cho đến 20 năm sau cuộc chiến ông vẫn còn chưa hiểu tý gì về con người Cộng Sản, mãi đến 20 năm sau mới vừa “biết được ta mà chưa biết được người” nên thua nhục là quá đúng!!!
Bây giờ chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với anh chị em trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản của chúng ta một quyển sách nhỏ có tựa đề là “LA MORT DU VIệT NAM” . Lẽ ra chúng tôi phải dịch là “SỰ SỤP ĐỔ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA”. (Hai chữ “Việt Nam” mà người Pháp thường dùng là để chỉ cho quốc gia VNCH, và “Bắc Việt” là danh từ họ thường gọi để chỉ cho VNDCCH), hoặc để tỏ lòng kính trọng tác giả chúng tôi phải dịch sát nghĩa là: “Cái chết của nước Việt Nam “, nhưng chúng tôi xin dịch là “Việt Nam Cộng Hòa bị bức

tử” để cho thêm rõ nghĩa sự kiện lịch sử ngày 30/4/1975.
Tác giả quyển sách bé nhỏ nầy là Đại Tướng Vanuxem, từng là sĩ quan cao cấp của quân đội Pháp tại chiến trường Bắc Việt cho đến 1954, sau đó thỉnh thoảng vẫn có sang thăm Việt Nam với tư cách một tướng Pháp, thượng khách của Việt Nam Cộng Hòa.
Ông là sĩ quan trừ bị trong quân đội Pháp. Lúc bị động viên ông là giáo sư, đã có bằng tiến sĩ Văn Chương (Docteur ès Lettres), bằng tiến sĩ Toán (Agrégé ès Math.) và bằng tiến sĩ Khoa Học (Agrégé ès Sciences). Ông được Tướng De Lattre de Tassigny gọi sang Việt Nam như một sĩ quan tùy viên với cấp bậc trung úy. Nhưng khi sang đến Việt Nam ông lại xin tình nguyện ra chỉ huy một đơn vị tác chiến để được ra mặt trận, và xin được phục vụ ở chiến trường Bắc Việt, lúc đó đang thật sôi động. Trong hai năm liền ông được thăng cấp 3 lần, toàn là tại mặt trận. Sau đó ông được gọi về chỉ huy Trường “đào tạo chỉ huy trưởng binh đoàn”, với cấp bậc trung tá, rồi đại tá (lúc bấy giờ được gọi nôm na là “cours tactiques”, tiền thân của trường Chỉ Huy và Tham Mưu của QLVNCH sau nầy). Hầu hết các tướng lãnh của VNCH chúng ta đều xuất thân từ trường nầy.
Ông là một sĩ quan rất bình dân, ăn mặc rất xuề xòa không giống như các sĩ quan Pháp khác, nhưng tất cả các sĩ quan khóa sinh đều rất mến phục ông sau vài ngày nhập trường vì tài giảng dạy của ông cũng như về đức tính của ông.
Sau đó Ông ra coi binh đoàn chiến thuật số 3, hoạt động ở Khu Nam, thuộc lực lượng bộ binh Bắc Việt (Groupement Tactique No 3/ Zone Sud/FTNV). Ông về nước năm 1954 với cấp bậc đại tá và thỉnh thoãng ông vẫn sang VN. Đầu năm 1975 ông có mặt thường trực tại VN và bị cộng sản trục xuất về Pháp khoản tháng 5/75.
Ông qua đời năm 1982, nhưng trước khi nhắm mắt ông vẫn còn nhớ đến VN, nên đã có trao lại cho trung tướng Trần văn Trung ChüTịch hội Cựu Chiến Sỉ tại Pháp, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa, một kỹ vật
rất quý mà ông đã được Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long trao tặng lúc Ông tháp tùng Tổng Thống Thiệu đáp trực thăng xuống An Lộc trong mùa hè đỏ lửa 1972.
Đặc biệt từ đầu năm l975 Ông Vanuxem đã thường xuyên có mặt tại Sài Gòn, nên ông đã phân tách rất chính xác về những sự kiện, những nguyên nhân và những hậu quả của sự việc “Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử”, chẳng những đối với quốc gia Việt Nam mà còn đối với nước Pháp và cả Thế Giới nữa.
Những nhận xét rất tỷ mỉ và tế nhị, có lúc hơi tếu và lộ vẻ biếm

nhẻ, của từng sự việc một mà ông đã đích thân mắt thấy tai nghe tại chỗ trong những ngày lịch sử nầy, khác hẳn những tiếng “khóc dở hơi” của “ngài” Mc Namara.
Văn ông chan chứa tình cảm rạt rào, khóc cho người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa và xót thương cho số phận đau thương của người dân Miền Nam Việt Nam dưới ách thống trị và gông cùm của người Cộng Sản.
Chúng tôi cố gắng dịch sao cho được sát ý sát nghĩa chừng nào hay chừng nấy, miễn là không “phản ý hay phản nghĩa”, vì tiếng Pháp là tiếng ngoại quốc mà trình độ học vấn của tác giả cao hơn bậc thầy của chúng tôi, trong lúc chúng tôi thì ngoại ngữ còn quá thấp, văn thì luộm thuộm, chỉ mong sao lột được hết những lời hay ý đẹp của tác giả, những lời tâm tình của một người không phải chiến hữu mà như một chiến hữu thân thương, một người không hẳn là một đồng minh mà như một đồng minh trung tín… Hơn thế nữa, về mặt chánh trị và quân sự, đại tướng là một nhân vật thuộc đẳng cấp quốc tế, những nhận xét của ông rất chính xác, có tầm mức chiến lược, đôi lúc ngoài tầm hiểu biết nông cạn của chúng tôi.
Do vậy, xin quý anh chị em độc giả niệm tình thông cảm cho những sơ sót của chúng tôi. Chúng tôi sẵn sàng xin được đón nhận những sự góp ý, chỉ bảo và sửa chửa nếu có, để bản dịch được thêm phần đúng đắn và phong phú thêm.
Kính,
Dương hiếu Nghĩa.
Sách “Việt Nam Cộng Hoà bị bứt tử” của Đại Tướng Pháp Paul Vanuxem :
h t t p : / / b a o v e c o v a n g . w o r d p r e s s . c o m / 2 0 0 9 / 0 4 / 1 8 / v n c h – b % e 1 % b b % 8 b – b % e 1 % b b % a 9 c – t % e 1 % b b % a d – p h % e 1 % b b % a 5 – b % e 1 % b a % a 3 n – d % e 1 % b a % b 7 c – bi%e1%bb%87t/ VIỆT NAM CỘNG HOÀ BỊ BỨC TỬ (110 trang)
(LA MORT DU VIETNAM) Tác giả: Đại Tướng Vanuxem Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa CHƯƠNG 1
SỰ THẬT ĐÓ ĐÂY
Ở xa lắm, xa thật xa phía bên kia trái đất, cách Paris của chúng ta khoảng 12.000 cây số, dọc theo bờ biển Đông, có những quốc gia

giống như trong truyền thuyết hơn là trong thực tế, nơi đó có những câu chuyện gần như hoang đường rất hấp dẫn, coi như trong tưởng tượng mà là có thật.
Như những biến cố tại nước Việt Nam, có gì đâu mà những người dân của Thế Giới Tự Do phải quan tâm đến? Vì lúc nào họ cũng đang bù đầu đối phó với những khó khăn triền miên về kinh tế… và ngay như những người Mỹ cũng vậy, mặc dầu họ vừa mới khéo léo rút chân ra được khỏi ,một cuộc chiến mà họ từng theo đuổi, họ cũng không muốn nghe đen những biến cố đó… Nhất là người Pháp chúng ta, khi nói đến Việt Nam thì ai cũng chỉ nghĩ đến các món ăn Việt Nam rất
ngon miệng của các tiệm,an người Việt ở Paris mà họ cứ gọi là “món ăn Tàu”. Họ không còn muon nghĩ gì cả ngoài những kỹ niệm không mấy
vui của một cuộc chiến đau thương mà người ta thường đề cao là “cuộc chiến đòi độc lập của các quốc gia thuộc địa”, mà nếu là một cuộc chiến đúng theo trào lưu của lịch sử như người ta nói thì cũng không một ai muốn tìm hiểu xem vì lý do gì nước Pháp chúng ta đã phải đổ vào đó quá nhiều công sức, tiền của, và sinh mạng.
Để làm gì ? khi người ta đưa những người lính Pháp vượt trùng dương…trên những con tàu mà những thú vui đường dài chỉ có một tác dụng nhất thời làm cho họ quên đi nỗi buồn xa nhà, nhớ quê hương mà thôi, chớ không thể nào làm cho họ quên được những người chiến hữu thân thương đã được những con tàu nầy đưa đi luôn, đi mãi mãi không bao giờ trở về lại cố quốc …
Và như thế thì có ai tin được là người Pháp chúng ta vẫn còn bị xúc động trước những biến cố mới đây của Việt Nam? Dù sao thì cũng chỉ là một việc nội bộ giữa người Việt và người Việt với nhau mà thôi phải không? Một cuộc nội chiến đẫm máu, tàn khốc… kéo dài trên 30 năm mà chỉ đưa đến một nền hòa bình không một ai mong đợi…
Có ai tin được là nền hòa bình nầy đây, dù có đạt được với bất cứ giá nào, thì đó cũng chỉ là một sự thất bại của Thế Giới Tự Do, đặc biệt là của Hoa Kỳ, kéo theo những nguy cơ mới cho nền an ninh của nước Pháp chúng ta?
Tất cả giới chánh trị người Pháp chúng ta đều không đồng ý một nền hòa bình như vậy, nhưng giới lãnh đạo của cái gọi là “thượng từng luân lý đạo đức” của thế giới lại tỏ vẻ thích thú! Thực tế hơn bao giờ hết, người dân Pháp chúng ta chỉ có hai chuyện phải bận tâm, đó là vấn đề kinh tế ở địa phương, và nhất thời vui hưởng hạnh phúc của chúng ta. Có cái gì quấy rầy chúng ta được nữa đâu? Người ta muốn đưa ra những chuyện vớ vẫn để khuấy động sự yên tĩnh của người Pháp chúng

ta được sao? Vì làm sao tin được rằng cái hoa hòa bình vừa mới nở kia lại là một hột giống chiến tranh sắp nẩy mầm?
Dù sao thì Tổng Thống Pháp cũng đã đoan chắc là người Pháp chúng ta vẫn có thể đi nghỉ hè một cách yên lành rồi!
NƯỚC VIỆT NAM XA XÔI QUÁ !
Viện thăm dò dư luận Sofres vừa đưa ra câu hỏi:“Cuộc chiến ở Việt Nam vừa được kết thúc bằng một sự thắng trận của phe cách mạng và sự ra đi của người Mỹ, một sự kết thúc như thế, anh có bằng lòng hay không bằng lòng?”

  • Có 57% những người được hỏi trả lời là bằng lòng.
  • Có 15% những người được hỏi trả lời là không bằng lòng – Có 28% trả lời không có ý kiến, tức là dửng dưng.
    Nhìn từ xa xa, thì người ta có thể tưởng là chiến thắng của phe cách mạng là một cuộc giải phóng mà toàn dân hô hào đòi hỏi (có vài nhà báo đã có nhận định thiển cận như thế), và dân chúng đã tỏ vẻ vui mừng không tả được, giống như niềm vui của người Pháp chúng ta về ngày đình chiến 11/11/1918 hay niềm vui của người dân Paris khi Sư Đoàn 2 Thiết Giáp Pháp tiến vào giải phóng thủ đô nước Pháp hồi thế chiến 2 vậy.
    Có vài người trong số không ít phóng viên nói trên đã có mặt tại Sài Gòn hy vọng nắm bắt được biến cố lịch sử nầy, họ có vẻ bực mình vì không thấy có biển máu như họ đã mong đợi để cho họ có được những tấm ảnh đẹp và đắt giá… Như thế là họ chưa biết gì về những người Cộng Sản, thật tội nghiệp !
    Sài Gòn năm 1975 cũng giống như Hà Nội năm 1954 vậy mà thôi! – “Bộ-đội họ cũng đứng đắn quá chứ nhỉ?”
    Các phóng viên nầy nói như thế vì họ không biết chờ đợi để mà xem! Họ không còn nhớ là hồi năm 1940 ngay tại nước Pháp cũng có nhiều người đã từng nói:
  • ’Người lính Đức cũng đàng hoàng quá chứ nhỉ?”
    Họ cũng ghi lại được một vài mẩu chuyện nho nhỏ, cũng thu được một vài hình ảnh mà họ luýnh quýnh lượm lặt được một cách vô bổ, có khi không còn có một giá trị gì nữa cả, trong một thời gian dài họ bị giữ lại tại Sài Gòn; trong khi đó thì người Nga họ bay ngay về Moscou để bán ngay những hình ảnh, tài liệu và tin tức sốt dẻo với một giá đắt hơn vàng, cho người Mỹ lúc đó đang đói tin.
    Hầu hết các nhà báo người Pháp chúng ta quá thật thà, tuy tin tức

có trung thực nhưng cũng quá chậm so với tin tức mà cơ quan tuyên truyền của Cộng Sản đã “xào nấu sẵn” và “tung ra từ trước rồi”, nên ít được ai tin nghe.
Vài tuần lễ sau khi Sài Gòn bị thất thủ, người Pháp chúng ta không một ai còn muốn nghĩ gì nữa cả, ngoài sự nhộn nhịp trên khắp các xa lộ đầy ấp các đoàn xe đi nghỉ hè.
Thời sự có nóng bỏng thật, hấp dẫn thật, giật gân và có gây xúc động thật, nhưng rồi cũng theo thời gian mà trôi qua đi trong quên lảng, chỉ có ghi lại được một sự kiện lịch sử quá bi thảm:
“Một quốc gia bị bức tử; Một dân tộc bị mất tự do và sẽ “bị sống” trong gọng kềm nô lệ: nước Việt Nam Cộng Hòa bị xóa tên trên bản đồ của thế giới.”
Có một cái gì đó, giữa người Pháp chúng ta và cái miền Viễn Đông xa xôi kia, như một mối tình thắm thiết mà nước Pháp như một kẻ thất tình muốn cố quên đi… nhưng làm sao có thể làm ngơ cho được khi mà giữa đôi bên vẫn còn có một vài kỷ niệm tình cảm quá nồng thắm, và vẫn còn một vài việc chưa giải quyết xong?
Hai chục năm về trước (1954), lúc đó vì quyền lợi nhất thời, người ta đã thỏa thuận chia cắt nước Việt Nam ra làm đôi thành hai miền Nam Bắc, tạm thời chỉ trong vòng hai năm thôi. Giải pháp nầy không tốt hơn biện pháp cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam bằng võ lực để tái thống nhất đất nước hay sao? Nếu cho biện pháp nầy là một điều hợp lý thì tại sao người Pháp chúng ta lại không bằng lòng? Hơn thế nữa các chánh phủ Pháp kế tiếp sau đó chỉ nhìn sự việc trên khía cạnh chánh trị mà không đánh giá được lòng thành thật của con người nên vô tình có những hoạt động theo chiều hướng thuận lợi cho một biện pháp như vậy, như bài “diễn văn PnomPenh” của tướng De Gaulle chẳng hạn (quá thiên cộng), do đó đã dẫn đến một sự kết thúc bi thảm như vừa rồi, âu cũng là một điều hợp lý mà thôi!
Dù sao thì cũng là một việc đã rồi! Người ta đã xé nát những Hiệp Ước Genève và Hiệp Định Paris quá đắc tiền, quá vô ích và quá lỗi thời, theo đó những quốc gia có trách nhiệm bảo đãm cho sự thi hành đã không hề “nhúc nhích” theo đúng bổn phận của họ. Thế đấy, vũ khí và võ lực đã giải quyết thay cho những nhà ngoại giao tất cả những gì mà họ không thể giải quyết được. Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa đã mất, một chánh phủ cách mạng lên nắm quyền, gọi là để mang lại trật tự và phồn thịnh cho Miền Nam Việt Nam mà họ cho là ở đó chỉ có hỗn loạn và tham nhũng!
Người Pháp chúng ta cũng chẳng biết phải làm gì hơn, vì dù sao

cũng là chuyện nội bộ của một quốc gia xa lạ, chúng ta lấy quyền gì để “xía vào” để rồi phải gánh lấy tội vạ lây?
Mặc kệ! Chế độ nào cũng vậy thôi! Chỉ có những sự thật là đáng kể, nếu xét trên khía cạnh chánh trị. Chúng ta chẳng có gì cần phải thắc mắc để tự đặt ra cho mình những câu hỏi về một sự việc mà nó chỉ có đem lại phiền não cho lương tâm của chúng ta mà thôi.
Dù sao thì người ta cũng cho đó là một nền hòa bình, một nền hòa bình mà Đức Thánh Cha cũng đã khen ngợi… nhưng có một điều mà ai cũng tò mò muốn biết, đó là sau Lê Đức Thọ và Kissenger (giải Nobel về Hòa Bình năm 1954), ai là người sẽ được giải thưởng Nobel về hòa bình (1975) đây ???
Tuy nhiên xuyên qua cái tang mà chúng ta phải chịu về cái chết của một quốc gia bạn, một quốc gia coi như có họ hàng gần với nước Pháp, một quốc gia mà người dân chỉ mong cầu có được sự tự do mà thôi, vẫn còn một vài điều mà vì quyền lợi của người Pháp, chúng ta cần phải rút
ra những bài học từ biến cố bi thảm nầy, vì có rất nhiều nguyên nhân đủ loại đã đưa một dân tộc đến chỗ tuyệt vọng để từ đó phải tự hủy mình sau một cơn hấp hối thật ngắn, nhưng thật kinh khủng. Vì, nếu hằng ngày vẫn có từ 15 đến 20 vụ tự tử, cá nhơn có tập thể có, chỉ nội trong một thành phố lớn và đẹp như Sài Gòn mà người ta gọi là “đã được giải phóng”, thì phải chăng đây là cả một quốc gia, cả một dân tộc đang thật sự lao mình vào cái chết…(từ trang 1-7).
….Thật vậy, người ta chỉ cần đọc tờ “Le Courrier Du Viêt Nam”, (tờ báo Cộng Sản in thì in tại Hà Nội, nhưng phát hành thì nói là in tại Paris, phát ra rất nhiều và cùng khắp nước Pháp), người ta sẽ biết diễn tiến của cái mà người ta gọi là “giải phóng Sài Gòn” như sau :
“Giải-phóng-quân chúng tôi tiến vào trung tâm thành phố Sài Gòn giữa những rừng “cờ và tiếng hoan hô vang dậy của hằng trăm hằng trăm ngàn đồng bào (..?..). Từ “hai bên đường, từ những đại lộ, trên nhiều, nhiều cây số, đồng bào tràn ra hoan hô “chào đón đoàn quân giải phóng chúng tôi (.?..). Phối hợp hành động với lực lượng “của giải¬phóng-quân, dân chúng Sài Gòn đã nổi dậy (..?..) trong tất cả các khu “phố, tiếp tục truyền thống đấu tranh lâu đời xứng đáng được mang tên “Hồ chí Minh”. Sài Gòn đã được giải phóng. Đó là một món quà rất đẹp được kính dâng lên “cho vị lãnh tụ kính mến vào đúng ngày sinh thứ 85 của Người. Cuộc xăm lăng của “đế quốc Mỹ đã bắt đầu từ thành phố Sài Gòn, Sài Gòn đã đi đầu trong cuộc chiến, “và Sài Gòn là nơi đã diễn ra trận đánh vinh quang cuối cùng của cuộc chiến, một “trận chiến thắng cuối cùng…”

Và đó là sự thật của lịch sử được họ chánh thức đưa ra. Nhưng chỉ là một “sự thật hoang tưởng” mà Bắc Việt và Việt Cộng dựng lên để dựa theo đó để còn “cai trị” dân chúng sau khi chiếm được Miền Nam.
MỘT CHIẾN BẠI CỦA CẢ HAI NƯỚC PHÁP VÀ HOA KỲ Thực tình mà nói thì sự thật lại không đúng như vậy!
Những hậu quả sau đó ngay tại Việt Nam không giống như những hậu quả của một chiến thắng mà những người mang danh là giải phóng trong một cuộc chiến tranh cách mạng chỉ nhằm vào một mục đích cuối cùng là “giải phóng” thật sự cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
Biến cố nầy có hậu quả là gây được tiếng vang quốc tế, và có một tầm quan trọng đặc biệt đến cả tình hình chiến lược toàn cầu.
Thật vậy, không những nước Pháp phải quan tâm vì những thiệt hại trực tiếp mà quốc gia nầy phải gánh chịu, mà cả Thế Giới Tự Do cũng phải duyệt lại sách lược phòng thủ, và an ninh và cho sự tự do của mình. Nếu cần có một sự bảo đãm nào đó thì không gì hơn là hãy nghe chính miệng ông Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã tuyên bố tại Hà Nội về “ba chiến thắng đã đạt được” như sau:

  • “Quốc gia chúng ta được mang một dấu ấn danh dự, hãnh diện là một nước đã oanh liệt đánh bại hai đế quốc lớn, đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời bằng hai chiến thắng nầy đã đóng góp rất thích đáng vào phong trào giải phóng các dân tộc trên thế giới”
    Như vậy là chiến dịch Hồ chí Minh xua quân đội Miền Bắc tiến chiếm Sài Gòn, chấm dứt cuộc chiến vào năm 1975 thật ra là một sự chiến bại của cả hai nước Pháp và Hoa Kỳ, đồng thời Cộng Sản đã đạt được một trong những mục tiêu quan trọng trên con đường chiến lược toàn cầu của họ.
    Thế nhưng, người ta phải hiểu rằng tất cả những người dân tự do đều rất quan tâm đến những gì đang xảy ra tại Miền Nam Việt Nam, vì chúng ta ai cũng dư biết rằng một chánh thể độc tài Cộng Sản khi đã chiếm được chính quyền rồi thì không bao giờ biết đến hai chữ “nhân đạo” như họ thường rêu rao, và đối với người Pháp chúng ta hai chữ “tự-do” lúc nào cũng vẫn là một tài sản quý báu hàng đầu, không ai chạm đến được!(trang 7-9)
    Vào tháng giêng năm 1975, để đo phản ứng của Việt Nam Cộng Hòa và nhất là của Hoa Kỳ, Bắc Việt tung quân từ phía biên giới Campuchia tiến đánh dữ dội tỉnh lỵ Phước Long. Trong khi Bộ Tư Lệnh Miền Nam Việt Nam dè dặt trong thế bị động, thì phía Hoa Kỳ không có hành động tiếp ứng.

Do vậy, Bắc Việt rất tự tin, nên ngày 12 tháng 3/75, họ bắt đầu cho mở cuộc tấn công. Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Vùng 2 Chiến Thuật, một trong số các tướng lãnh giỏi của Miền Nam Việt Nam, đang cố gắng thực hiện một cuộc hành quân triệt thoái, đưa hết lực lượng ở Cao Nguyên của Ông về Duyên Hải theo lệnh của Tổng Thống Thiệu. Lực lượng nầy đang nỗ lực phòng thủ tuyến Kontum Pleiku, sau khi tỉnh Ban Mê Thuột ở phía Nam bị thất thủ.
Cuộc rút quân được diễn ra trong hỗn loạn, quân dân tranh nhau chạy tán loạn trong kinh hoàng, vô trật tự…. Vùng Cao Nguyên mất, và Miền Nam Việt Nam bị cắt ngay ra làm hai mảnh.
Quân Bắc Việt khai thác ngay chiến quả bất ngờ nầy, từ phía Bắc tràn xuống, từ phía Tây qua và từ phía Nam lên, tất cả lực lượng đánh thẳng vào Vùng I Chiến Thuật, nằm về cực Bắc của Việt Nam Cộng Hòa, nơi đó có đế đô lịch sử Huế và thành phố lớn thứ nhì của Miền Nam Việt Nam, hải cảng và phi trường Đà-Nẵng.
Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng I / Quân Đoàn I, là một cấp chỉ huy giỏi và khôn khéo nhanh nhẹn nhất trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, ông đã rất bình tĩnh ổn định lại tình hình của tỉnh Quãng Trị, bình tĩnh chịu đựng các lượn sóng liên tục khai thác thành quả của bộ đội Bắc Việt, để rồi cuối cùng Ông đấy lui họ về tận sông Bến Hải mà không bị một thiệt hại đáng kể nào. Lúc này (1975) ông đã dùng sư đoàn Bộ Binh và các đơn vị địa phương quân như là lực lượng phòng thủ diện địa, giữ hai sư đoàn chánh quy tinh nhuệ làm lực lượng trừ bị cho quân đoàn, đó là sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và sư đoàn Nhảy Dù. Với phương thức đó ông nghĩ là có thể giữ được cố đô Huế của mình. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã tuyên bố là cố đô Huế sẽ phải được cố thủ, nhưng Tướng Trưởng không được biết điều này. Do đó sau khi bất thình lình nhận được lệnh trả sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và sư đoàn Nhảy Dù về Sài Gòn (đề phòng biến cố chánh trị) thì Tướng Trưởng quyết định rút quân, bỏ ngỏ cố đô Huế. Bất ngờ Tổng thống Thiệu lại ra lệnh tái chiếm cố đô Huế. Hàng trăm ngàn dân tỵ nạn làm nghẽn tất cả các trục giao thông, mọi phương tiện liên lạc đều gián đoạn, quân nhân các cấp chỉ còn nghĩ đến việc tự cứu lấy mạng sống của chính mình và gia đình mình nên các đơn vị chiến đấu tự rã hàng rã ngũ… và như thế thật sự là “mạnh ai nấy chạy” một cuộc tháo chạy vô trật tự và không còn một ai nghĩ đến việc phòng thủ Đà Nẵng nữa.(trang 10-11)

KHÔNG! NHẤT ĐỊNH SÀI GÒN KHÔNG PHẢI “ĐƯỢC GIẢI PHÓNG”
Các chiến xa Nga tiến vào Sài Gòn, một thành phố vui vẻ, sống động, lúc nào cũng nhộn nhịp và ồn ào với những tiếng xe du lịch lẫn xe mô tô….. Khi những trận chiến vô vọng vừa “bị chấm dứt” là các sự đi lại bắt đầu tấp nập bình thường ngay, như chẳng có việc gì xảy ra.Các toán tuần tiểu của Việt Cộng, những người nhỏ thó bé nhỏ trong bộ quân phục rộng phùng phình màu xanh lá cây, đầ̀u đội nón lá, một mảnh vải đỏ cột quanh bắp tay, chân mang dép râu làm bằng lốp xe cũ, đang nhè nhẹ bước đi, thận trọng tiến từ góc đường nầy sang góc đường khác, dừng lại ở mỗi ngã tư đường, hơi khó chịu trước những cặp mắt lạnh lùng và khi dể của khách bộ hành đang tản bộ bị bắt buộc phải bước chậm lại tránh xe Honda (vì các xe nầy không bao giờ ngừng xe lại để tránh khách đi đường) chớ không phải để tránh tiếng súng vốn đã chấm dứt hẳn từ lâu rồi.
Bộ đội Bắc Việt thì từ trên xe cam nhông Molotova, tự vỗ tay để dân chúng vỗ tay theo, đúng y kiểu cộng sản, nhưng những cô gái đẹp trên đại lộ Tự Do (Catinat) lờ đi, không buồn đáp ứng… Một nỗi buồn vô tận được in đậm nét trên gương mặt của mọi người dân, vì Sài Gòn không còn nữa, Sài Gòn không còn là Sài Gòn đẹp, Sài Gòn vui nhộn nữa rồi
Cũng đúng Sài Gòn là một rừng cờ thật đấy! Như một ngày lễ 14 tháng 7 thật sự vậy. Nhưng dĩ nhiên không có bóng một lá cờ nào của chế độ cũ, đó là một sự cẩn thận bắt buộc. Tuy nhiên người ta vẫn thấy nhiều lá cờ Pháp, cờ thật lớn, mà những người Pháp còn kẹt lại hay những người có quốc tịch Pháp cố ý treo lên trước cổng rào, hy vọng có được một sự bảo đãm an toàn nào đó.
Người ta bận rộn suốt cả đêm, người ta đem ra những lá cờ hai màu xanh đỏ có ngôi sao vàng ở giữa của Việt Cộng, mãi đến hai ngày sau cờ đỏ sao vàng của Bắc Việt mới thấy xuất hiện. Và sau đó thì có lệnh của Ban Quân Quản Sài Gòn cấm treo cờ ngoại quốc, do đó cờ tam tài của nước Pháp không còn thấy phất phơ trong thành phố nữa.
Một vài xe Molotova đầy nghẹt “bộ đội”, một vài chiến xa còn được cố ý cho ngụy trang để làm dáng với một vài cành lá xác xơ héo vàng cốt để nhắc cho người ta đừng quên đó là “xe tăng” của kẻ chiến thắng, được cho chạy rảo trên các đường phố. Đêm xuống… thay cho pháo bông mừng chiến thắng, người ta chỉ thấy được những vùng sáng rực của một vài kho đạn bị cho nổ đâu đó,
và những tiếng nổ lớn trong các ngọn lửa đang bốc lên từ vài chiếc tàu

chiến còn sót lại ở khu vực Bộ Tư Lệnh Hải Quân mà các thủy thủ đoàn không quên đốt bỏ trước khi hạ súng đầu hàng.
Buổi trưa, tại phòng ăn của khách sạn, người ta vẫn còn dọn cho khách ăn như thường lệ, và một người bồi bàn đã đưa tay chỉ qua cửa kính, vừa cho các khách ăn trưa chú ý vừa reo to:

  • “Kìa, bọn Việt Cộng kìa”.
    Anh ta nói rõ là “Việt Cộng” chớ không nói là “quân giải phóng”. Một người khác vừa cúi xuống dọn ăn cho khách vừa nói khẽ bên tai:
  • “Chúng nó toàn là người Bắc! Người ta sẽ không chấp nhận chúng đâu, toàn là bọn người man rợ!”
    Và người ta nhắc lại nhận xét xa xưa của người dân Miền Nam: dân miền Bắc nhỏ con, có lẽ vì thiếu ăn, họ thấp hơn người dân miền Nam khoảng 20 phân. Thật vậy, đó là một loại người “Phổ” của Việt Nam, cũng giống như người Đức lúc mới bước chân vào nước Pháp vậy.
    Ngày hôm sau, người bạn trẻ gác thang máy cũng có nhận xét theo nhãn quan mơ mộng của anh, giọng buồn buồn:
  • “Bây giờ thì “bùm bùm” là để cho người khác! Đối với chúng tôi thìchiến tranh đã chấm dứt rồi, nhưng luôn luôn giống như còn chiến tranh vậy!
    Họ cũng vậy thôi, những công chức, cán bộ, thợ thầy và công nhân thuộc mọi loại hãng xưởng, và dân chúng… họ đều “bị gọi” phải đến họp mít tinh ngày mai, một cuộc họp “bất thần”, để kỷ niệm ngày lễ lao động 1/5 và mừng “ngày giải phóng Sài Gòn”.
    Trên bãi cỏ trước dinh Độc Lập, họ được nghe tướng chỉ huy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định hô hào cổ võ. Họ bắt buộc phải để lộ bộ mặt vui vẻ và hoan nghênh đúng mức. Sau đó họ phải diễn hành, tay phải phất cờ Bắc Việt và cờ Việt Cộng, cờ giấy dĩ nhiên… Vẻ mặt buồn đau tủi nhục của một số lớn được che dấu rất kỹ và họ cũng không cần phải tiết lộ điều gì, hay đúng hơn là không dám nhỏ to với bất cứ ai dù là trong chỗ riêng tư thầm kín.
    Không, Sài Gòn không phải đã “được giải phóng”! Không, Sài Gòn cũng không phải đã “tự giải phóng”
    Tuyên truyền là một điều rất cần thiết cho tinh thần của quân đội xăm lăng Bắc Việt, họ hết sức ngơ ngác, ngỡ ngàng trước sự trù phú của thành phố Sài Gòn, vì họ vẫn đinh ninh như Bác và đảng đã khẳng định rằng họ vào Nam để giải phóng đồng bào của họ khỏi sự nghèo đói và nô lệ. Sự thật không phải như vậy ! Nhưng rồi tuyên truyền cũng rất cần thiết để “giáo hóa” người dân Miền Nam lúc nào cũng ương ngạnh

và “phản động”.
Con cá đã ở trong nước rồi, nhưng là nước “lạnh” và nó phải hiểu như vậy.
Một trong những nhà báo có mặt tại Sài Gòn lúc đó, anh Lartéguy, một người mà ai cũng biết là rất vô tư, đã nói một câu nhận xét thẳng thừng:
-”Cộng sản Miền Bắc đã chiếm thành phố Sài Gòn, “chiếm” chứ không phải “giải phóng”. Đây là một chiến thắng lớn về mặt quân sự, nhưng cũng là một chiến bại to về mặt tâm lý.”
Muộn rồi! Đã muộn quá rồi! Dân chúng Sài Gòn đã từng không chịu nhận ách nô lệ lên cổ, đang khóc cho những chiến binh xấu số của họ…
CHƯƠNG 3
SỰ PHẢN BỘI CỦA HOA KỲ
Người Trung Hoa có một câu châm ngôn: “Thất trận rồi người ta mới đếm xác chết và mới đi tìm người trách nhiệm”. Phản ứng của người dân, thường hay trút hết trách nhiệm cho người lãnh đạo hoặc cho người lính chiến. Tại Việt Nam thì cả hai đều có phần trách nhiệm của mình, nhưng cả hai đều không thể làm gì hơn được với hai bàn tay trắng vì họ đã bị người ta tước hết khí giới từ lâu!
Việt Nam là một nước nông nghiệp nên không thể sản xuất vũ khí được, do đó trong cuộc chiến, cả hai bên Miền Nam và Miền Bắc đều bắt buộc phải nhận sự viện trợ quân sự từ bên ngoài. Do vậy, người ta thường nói rằng chỉ cần chấm dứt viện trợ ngoại quốc cho cả hai bên Nam và Bắc thì ngọn lửa chiến tranh ở Việt Nam sẽ yếu dần và đi đến chỗ tàn lụi ngay, cuộc chiến đương nhiên phải chấm dứt. Nhưng cũng có người chỉ đứng về một phía, đã khẳng định quá đơn phương và khiếm diện rằng chỉ cần người Mỹ, hay đúng hơn là đế quốc Mỹ như người ta đã cáo buộc, chấm dứt mọi viện trợ kinh tế và quân sự cho Miền Nam Việt Nam, là Miền Bắc sẽ chấm dứt cuộc chiến tranh nầy trong chiến thắng.
Và đó là những điều đã xảy ra trên thực tế.
Người ta đã từng cho rằng chiến tranh ở Việt Nam không phải là một cuộc nội chiến giữa Miền Nam và Miền Bắc, vì nếu giữa người Việt với nhau thì không chóng thì chầy họ đã có thể đạt được một sự thỏa thuận nào đó với nhau rồi.
Nhưng đây là một cuộc chiến tranh giữa các siêu cường quốc, mượn

tay người Việt Nam (hay sinh mạng người Việt Nam cũng thế) và ngay trên lãnh thổ Việt Nam, để so tài hơn thua cao thấp với nhau, ngăn chặn nhau không cho bên nào bành trướng thêm ra hơn nữa, vì hai bên không thể trực tiếp đối đầu với nhau được, tránh bị tổn thất nặng có thể đi đến chỗ tiêu diệt lẩn nhau. Có điều là cả hai bên đều nuôi dưỡng một mối thù hằn mà nguyên nhơn không phải xuất phát từ nước Việt Nam vì nước Việt Nam không có gì để họ thiết tha quan tâm đến.
HOA KỲ THÌ “NGĂN CHẶN”
KHỐI CỘNG SẢN THÌ “XÂM CHIẾM, BÀNH TRƯỚNG”
Người ta có thể thấy được rất rõ là Nga và Trung Quốc vẫn không bao giờ che dấu tham vọng xâm chiếm toàn cầu của họ theo đúng hướng chiến lược đã hoạch định từ trước, rất rõ ràng, và nếu Hoa Thịnh Đốn chỉ bo bo theo sách lược “tạo uy tín và bành trướng kinh tế” thì chiến lược đó của Hoa Kỳ hoàn toàn nằm trong thế thủ, bị động.
Đặc biệt là ở Á Châu, Hoa kỳ nhất nhất theo thuyết “ngăn chặn” các bước tiến của cộng sản. Do vậy mà trên mảnh đất đầy hình ảnh đau thương và tàn khốc của cuộc chiến, người ta đã “đóng khuôn” cho Miền Nam Việt Nam trong nhiệm vụ phòng thủ thụ động, và các đồng minh lớn của họ không bao giờ muốn cho họ đi ra ngoài khuôn khổ nhiệm vụ đó, trong khi bộ đội Bắc Việt thì được tung ra trên khắp cả 3 nước Đông Dương, từ Lào, Cam Bốt đến Miền Nam Việt Nam, ẩn hình dưới danh nghĩa của lực lượng cách mạng Pathet Lào, Khmer đỏ, và Việt Cộng, để rồi cuối cùng họ cũng phải bỏ cái mặt nạ của họ ra, hiện “nguyên hình” là quân xăm lăng Bắc Việt, là kẻ chiến thắng, để tiến vào Sài Gòn.
Tuy trận tấn công vào tỉnh lỵ Phước Long vào tháng 1/75 của bộ đội Bắc Việt là một cuộc tấn công có giới hạn (mà phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa một phần vì sợ bị nhử vào bẫy có thể bị hao quân và mất thêm chiến cụ, một phần cũng không có đủ lực lượng để đối phó được với một loại tấn công qui mô như vậy, nên không có phản ứng
đối kháng mạnh), nhưng Hà Nội cũng thu lượm được quá đủ bằng cớ để chứng minh với những ai còn chút nghi ngờ, là “Hoa Kỳ không còn can thiệp vào chiến cuộc nữa”. Và như vậy là Bắc Việt cho tiến hành ngay cuộc tổng tấn công mùa xuân với đầy đủ bảo đãm, trong một sự an toàn tuyệt đối.
Rõ ràng là Hoa Kỳ đã khuyến khích Bắc Việt bằng thái độ im lặng và quá thụ động của họ sau vụ tấn công quan trọng nói trên, vi phạm rất nặng và rất trắng trợn “Hiệp Định Paris 1973 Về Ngừng Bắn Và Tái Lập Hòa Bình Ở Việt Nam “.

Thật ra, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đã được báo động về thái độ “bất can thiệp” nầy của Hoa Kỳ từ lâu rồi. Trong những tháng 1, 2, và 3/75, đã có nhiều nghị sĩ dân biểu Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam và đã từng xác nhận với Tổng Thống Thiệu là “viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa trong những ngày sắp tới sẽ
rất là mong manh trong may rủi”. Mỉa mai thay,
viện trợ nầy trước đó đã được Tổng Thống Hoa
Kỳ là ông Nixon long trọng tuyên hứa với Tổng
Thống Việt Nam Cộng Hòa!!!(trang 14-17)
-http://thangtien.de/index.php?option=com_ content&task=view&id=1314&Itemid=323
“Những Ngày Cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Hòa” tác giả là ông Jean Marie Mérillon, cựu đại sứ Pháp tại Sài Gòn năm 1975.Trong đó có nói về các công tác của Đại Tướng Vanuxem trong những ngày cuối cùng của Sài Gòn.
20/04/2010 bởi ovv
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CUẢ VIỆT NAM CỘNG HOÀ Dịch từ: “Việt nam Cộng hoà bị bức tử” cuả Đại tuớng General Vanuxem
Bài nầy chỉ là một đoạn ngắn trích từ bản dịch tóm lược của quyển “Sài Gòn et moi”, mà tác giả là ông Jean Marie Mérillon, cựu đại sứ Pháp tại Sài Gòn năm 1975. Quyển sách nầy rất có giá trị về mặt lịch sử, từng được các báo Việt Nam tại Pháp đăng bản tóm lược vào thập niên 80. Chúng tôi xin tạm thời ghép bài nầy vào bản dịch “Việt Nam Cộng Hòa Bị Bức Tử “, phỏng dịch từ quyển “La Mort du Việt Nam” của đại tướng Vanuxem, như một phụ bản đặc biệt. Một vài đoạn cũng có liên quan đến tướng Vanuxem, nhưng quan trọng hơn đây là một đoạn hồi ký rất đặc biệt của một nhân chứng lịch sử trong những tháng đen tối nhất của Việt Nam Cộng Hòa, người đã đóng góp công sức cho một giải pháp với hy vọng cứu vãn được Miền Nam Việt Nam tạm thời khỏi rơi vào tay Bắc Việt, nhưng rất tiếc là không thành công vì nhiều lý do ngoài ý muốn của ông.
(Quyển “Saigon Et Moi” được giới thiệu ngày 23/3/1985 tại khách sạn La Fayette, quận 6, Paris. Trong hàng cử tọa ngày hôm đó có một số nhân vật quan trọng lúc bấy giờ như cựu Tổng Thống Giscard d’ Estaing, thị trưởng Jacques Chirac, Ông Pierre Mesmer v.v… nhưng sau đó hình như tác giả không được phép của Bộ Ngoại Giao (hay của chánh phủ Pháp) nên không có thể phổ biến quyển sách nầy ra thị

trường. Và cho đến giờ nầy không còn ai tìm thấy tung tích quyển sách nầy nữa ở bất cứ thư viện nào bên Pháp, kể cả Thư Viện Quốc Gia Pháp ở Paris, cũng như sau nầy chính Ông Mérillon đã đính chánh ông không phải là tác giả của quyển “Saigon Et Moi” hay bất cứ quyển nào khác viết về Việt Nam. Tuy nhiên các báo Việt Nam tại Pháp lúc bấy giờ đều có đăng bản tóm lược của quyển sách nầy, mà bản tóm lược của ông Vũ Hải Hồ tại Paris là một.
Hy vọng một ngày nào đó nếu có duyên may tìm được quyển sách quý “Sài Gòn et Moi” thì chúng tôi sẽ xin tiếp tục dịch để cống hiến cho quý vị độc giả. Bây giờ thì xin giới thiệu quý vị phụ bản đặc biệt nầy, trích từ tập san ĐA HIỆU).
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA NGƯỜI ĐI KHÔNG MUỐN LƯU LẠI BẰNG CHỨNG

Đa.i Sứ Pháp tại VietNam Jean Marie Merillon
Đã đến lúc Đại Sứ Martin phải nói thật với tôi: Nước Mỹ cần phải làm gì vào những ngày sấp tới khi Phan Rang thất thủ? Và Mỹ cần xác minh thái độ đối với Dương văn Minh mới hôm qua vừa đòi Nguyễn văn Thiệu từ chức .
Ông Martin đã lưỡng lự rất nhiều rồi mới nói cho nước Pháp hay rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi Miền Nam . Còn nước Pháp thì muốn cố giữ Miền Nam bằng một chánh phủ trung lập giả định, biết rằng đó chưa hẳn là một liều thuốc hồi sinh cho toàn thể chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa một cách công hiệu, nhưng chẳng còn phương thức cấp cứu nào phù hợp với tình thế lúc đó.
TỐI 18/4/75 :
Qua điện thoại, lần thứ nhất Ông Martin mới nói ra ý định của Hoa Kỳ. Đối với chính trường nước Mỹ thì chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt sau Hiệp Định Paris năm1973. Vấn đề còn lại là giải thể Hoa Kỳ tại Đông Dương.
Ông Martin muốn nhờ tôi làm trung gian chuyển đạt ý muốn của Mỹ cho phía Việt Cộng. Tôi bèn trả lời:

  • “Điều mà ông yêu cầu, tôi sẽ thõa mãn cho ông 5 tiếng nữa nếu CUỘC CHIẾN VIỆT NAM 1945-1975 953

không có gì trở ngại trong việc liên lạc. Tuy nhiên tôi phải phúc trình lên chánh phủ của tôi, vậy ông Đại Sứ gởi cho tôi một công hàm ủy thác làm việc nầy.”

  • “Không thể được” người ta không muốn lưu lại bằng chứng.
  • “Như thế từ giờ phút nầy nước Pháp sẽ đãm nhận vai trò hòa bình cho Việt Nam theo chủ thuyết của Pháp.”
  • “Chúng tôi cám ơn nước Pháp. Với tư cách cá nhơn tôi hoàn toàn chống lại chủ trương của Hoa Kỳ dành trọn quyền thắng trận cho Việt Cộng.”
    Sau đó chúng tôi chuyển sang phần tâm sự gia đình, hỏi thăm sức khỏe bà Đại Sứ v.v… Đại Sứ Martin cho biết nước Mỹ quá chán ngấy những vụ đão chánh trước kia nên để cho ông Thiệu từ chức rồi ra đi hơn là đão chánh. Vai trò của Nguyễn cao Kỳ không còn cần thiết sau khi Hoa Kỳ đã tặng phần thắng cho Việt Cộng. Ngày 30/4, trước 3 tiếng đồng hồ hạ cờ Hoa Kỳ sau 20 năm bay trên vòm trời Việt Nam, Đại Sứ Martin gọi điên thoại vấn an, chúc tôi ở lại xứ sở nầy tiếp tục sứ mạng hòa bình, đồng thời khuyến khích tôi “còn nước còn tát.”
    Công việc đầu tiên của tôi là liên lạc với Phan Hiền trong trại Davis (Tân sơn Nhất) cho biết chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam của Huỳnh tấn Phát muốn ấn định rõ thời hạn Mỹ rút quân khỏi Việt Nam . Phan Hiền bèn hỏi lại tôi là nên ấn định vào ngày nào?

Sự giàn xếp người Mỹ ra đi cũng làm phiền phức tôi không ít. Ông trưởng phòng CIA xúi ông Tổng Giám Đốc Liên Đoàn Lao Công Việt Nam kiếm khoảng 20.000 người mặc quần áo nông dân biểu tình trước Tòa Đại Sứ Mỹ đòi Mỹ phải ở lại giúp Việt Nam. Ông Trần quốc Bửu hứa sẽ làm được, nhưng rồi chẳng thấy biểu tình chi cả. CIA chưa muốn đi vội, có vẻ muốn ở lại để tổ chức phá rối cộng sản như họ đã từng làm ở ngoài Bắc sau Hiệp định Genève 1954. Trưởng phòng thương mại Mỹ xin gia hạn đến tháng 6 để giúp các hảng thầu,ngân hàng, các nhà kinh doanh di tản các dụng cụ xí nghiệp, cơ xưởng máy móc về Mỹ. Nhưng rồi Đại Sứ Martin nhận được lệnh của Tòa Bạch Ốc là người Mỹ và tất cả những gì liên hệ đến Mỹ phải rời khỏi Việt Nam chậm lắm là cuối tháng 4/75.
Đại tướng Pháp Vanuxem chạy chỗ nầy chỗ kia với thiện chí cố vấn cho ông Thiệu phản công, nhưng vô ích. Tôi được thông báo Mỹ đã sắp xếp ngày đi cho ông Thiệu đâu vào đó cả rồi. Tướng Vanuxem, người từng chỉ huy ông Thiệu, than thở với tôi: “Thiệu “lủy” không nghe “moa”, đánh giặc theo kiểu Mỹ sẽ thua không còn một mảnh đất để thương thuyết với Việt Cộng.”
Ngày 18 tháng 4 chúng tôi xác nhận ngày di tản của Hoa Kỳ với Phan Hiền.Trước khi lập chánh phủ giả định, tôi xét phản ứng của Nga Sô và Trung Cộng. Nước nhiệt thành đầu tiên là Trung Cộng. Thủ Tướng Chu ân Lai điện cho Bộ Ngoại Giao Pháp là sẵn sàng hợp tác với Pháp để xây dựng một chánh thể trung lập tại Miền Nam nếu có thành phần MTGPMNVN tham dự.
Tại Hànội, cuộc vận động với Đại Sứ Nga được xem là mấu chốt của vấn đề. Nhưng Đại Sứ Nga, ông Malichev từ chối, nói rằng: “Chủ quyền xây dựng chính thể Việt Nam do đãng cộng sản Bắc Việt quyết định. Ngoài tình hữu nghị cũng như các sự giúp đở Việt Nam, Nga chẳng có quyền hạn gì cả.” Lời tuyên bố đó giống như một kẻ ăn trộm nho bị bắt quả tang rành rành mà vẫn cứ chối bai bải là mình chỉ đi dạo mát trong vườn nho mà thôi. Chẳng là vì chúng tôi có đủ tin tức tình báo nói rõ có 5 vị tướng lãnh Nga có mặt trong Bộ Chỉ Huy chiến dịch Hồ chí Minh tại chiến trường Long Khánh. Không lẽ các vị ấy chỉ ngồi uống trà nói chuyện chơi với Văn tiến Dũng hay sao ?
Toàn thể các nước Đông Nam Á lo ngại một nước Việt Nam độc lập dưới một chánh thể nào trong tương lai. Đối với họ, Việt Nam mãi mãi có chiến tranh bao giờ cũng có lợi hơn một Việt Nam hòa bình thốngnhất. Theo quan điểm đó, khối Đông Nam Á tán thành Việt Nam được đình chiến trong trung lập hơn là thống nhất trong độc lập. Quan niệm

nầy lan rộng cả Á Châu, đặc biệt là Nhật Bản, nước Nhật sẽ hết mình đóng góp cho Đông Dương trung lập. Duy có Nam Dương cực lực phản đối. Nam Dương chưa nguôi mối thù Trung Cộng đạo diễn cuộc đão chánh hụt năm 1965, nên bác bỏ giải pháp đình chiến tại Việt Nam có Trung Cộng tham dự.
(Mãi đến năm 1978, tướng Suharto có gởi cho tôi một bức thơ tỏ ý hối tiếc là lúc đó chánh phủ ông đã có nhận xét sai lầm về những ý kiến của chúng tôi).
Mao thì ghét cay ghét đắng Lê Duẫn thân Nga, thành thử những điều kiện Bắc Kinh đặt ra là phải hạ bệ đảng viên thân Nga, cầm chân quân Bắc Việt để dành cho MTGPMN tiến vô Sài Gòn.
Thực ra nền trung lập đối với chúng tôi chỉ coi như tạm thời ngăn cản dòng nước lũ, cho Việt Nam Cộng Hòa tạm dung thân.
Lời giao ước chánh trị khác hẳn với lời giao ước ngoại giao. Bắc Kinh chỉ giao ước bằng miệng là sẽ tìm cách cản trở Bắc Việt chậm nuốt Miền Nam , biện pháp quân sự coi như yếu tố cần phải có. (Rất tiếc chờ mãi đến năm 1978 Trung Cộng mới dùng biện pháp nầy để dằn mặt Việt Nam). Phần chúng tôi là phải đáp lời hứa là thành lập chánh phủ liên hiệp gồm 3 thành phần: Quốc gia, Đối lập, và MTGPMN. Chu Ân Lai đưa ra một danh sách: Trương như Tảng, Nguyễn thị Bình, Đinh bá Thi, thiếu tướng Lê quang Ba, trung tướng Trần văn Trà, ngỏ hầu làm lực lượng nồng cốt thân Tàu trong chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam. Điều kiện họ đưa ra thoạt nhìn thì không thấy có gì trở ngại, nhưng thực hiện lại vô cùng khó khăn. Vì những người nầy không có thực lực hay quyền hành gì cả. Toàn thể quyền hòa hay chiến đều do Lê Duẫn nắm cả. Trên Lê Duẫn một bực là Mạc tư Khoa. “Dường như đã từ lâu phe quốc gia lẫn phe cộng sản Việt Nam đều đã không có quyết định gì về số phận đất nước của họ”
Móc nối với Trung Cộng thỏa thuận đâu vào đó cả rồi, sáng ngày 22/4 tôi mời phái đoàn Dương văn Minh vào tòa Đại Sứ tiếp xúc với chúng tôi. Phái đoàn nầy có nhiều nhân vật đang tập sự làm chánh trị, những kẻ chuyên sống nhờ xác chết của đồng bào họ: Huỳnh tấn Mẫm, Hoàng phủ Ngọc Tường, Ngô bá Thành, Ni sư Huỳnh Liên, Lý quý Chung, Vũ văn Mẫu, Hồ ngọc Cứ v.v… Tôi thấy ông Dương văn Minh đã liên lạc quá vội với một thành phần vô ích. Những khuôn mặt nầy Bắc Việt chưa biết họ, còn hao công giúp Bắc Việt thì chỉ có việc chưởi tầm bậy chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi đi ngay vào vấn đề hỏi chung trước mặt mọi người là: “Chúng tôi hết sức ủng hộ người Việt Nam thành lập một chánh phủ hòa hợp

hòa giải dân tộc. Vậy trong những ngày sấp tới có những cuộc thương thuyết xảy ra, quí vị có đồng ý nhận quí vị là đại biểu các khuynh hướng chánh trị ở Miền Nam không ? Chiến tranh đang đến hồi dứt khoát phải có kẻ thua người thắng. Hảy cho chúng tôi biết, chánh phủ quí vị tới đây sẽ thua hay Việt Nam Cộng Hòa thua, hoặc MTGPMN thua ? “
Huỳng tấn Mẫm cướp lời Dương văn Minh nói trước:

  • “Thưa ông Đại Sứ Pháp, cuộc chiến nầy Mỹ đã thua, Tất cả người Việt Nam chúng tôi thắng trận”
    Căn cứ theo lời của Huỳnh tấn Mẫm, tôi đoán ngay hắn là một thứ bung xung trước thời cuộc, háo danh, sẵn sàng làm tôi mọi cho bất cứ chế độ nào chịu cấp phát tước quyền cho hắn. Nếu biết khôn và khách quan nhận định thì hắn phải nói như vầy: “Bọn phản chiến Mỹ thua trận, và tất cả người Việt Nam thắng trận trong một nền hòa bình rơi nước mắt.”
    Bà ni sư Huỳnh Liên nói nhiều lắm. Bà kể lể “tín đồ Phật Giáo bị kềm kẹp từ 20 năm qua, nếu cộng sản thắng thì đó là lời cầu nguyện của hàng triệu phật tử Việt Nam “
    Luật sư kiêm chánh trị gia Vũ văn Mẫu có vẻ già dặn hơn. Ông đặt tiếng “nếu” ở mỗi mệnh đề để thảo luận. “Nếu” chính phủ tương lai mà trong đó có ông làm thủ tướng thì viễn ảnh hòa bình sẽ nằm trong tầm tay dân tộc Việt Nam v.v..” Ông cũng ngỏ lời cam ơn tôi dàn xếp thời cuộc để lập ván bài trung lập tại Việt Nam .
    Đây là buổi thăm dò quan niệm, nhưng những con cờ quốc tế đã gởi cho tôi từ trước không có Huỳnh tấn Mẫm, Ngô bá Thành, Huỳnh Liên, Vũ văn Mẫu và Lý quý Chung. Tôi lễ phép mời họ ra về, ngoại trừ đại tướng Dương văn Minh để thu xếp nhiều công việc khác. Tiển ra tận thềm sứ quán, tôi có nói mấy lời để họ khỏi thất vọng sau nầy :
  • “Thưa quí vị, thiện chí thành lập tân chánh phủ, điều đó không ai chối cải công lao của quí vị. Tuy nhiên thẩm quyền tối hậu giờ phút nầy nằm trong tay Hànội. Nước Pháp chỉ làm một việc có tính cách trung gian hơn là chủ động’
    Mọi người trợn ngược tròng mắt nhìn tôi hết sức ngạc nhiên. Ông Vũ văn Mẫu nói nhỏ với tôi một câu bằng tiếng Latinh; “Tôi muốn đi Pháp nếu tân chánh phủ không đuợc Hànội nhìn nhận.”
    Khi trở vào, Đại tướng Dương văn Minh ngồi đó chờ tôi, nét mặt sung mãn, tự hào là đã nắm vững thời cuộc. Vừa nghe chuông điện thoại reo, tùy viên giao tế của chúng tôi giới thiệu người bên kia là Võ

đông Giang. Đường dây điên thoại viễn liên nầy kêu qua tòa Đại Sứ Pháp ở Tân gia Ba rồi cũng dùng đường dây nầy chuyển về Bộ Ngoại Giao Hànội. Tại Hànội họ sẽ móc đường dây tiếp vận vô Nam để tiếp xúc với vị Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, vì ông nầy muốn gập tôi có chuyện gấp. Tôi đồng ý nhưng phải chờ hai tiếng đồng hồ nữa mới bắt xong đường dây như thế.
KẾ HOẠCH THỨ NHẤT
Thành phần chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc , đồng chủ tịch là hai ông Dương văn Minh và Trần văn Trà. Ba phó chủ tịch là Vũ văn Mẫu, Trịnh đình Thảo và Cao văn Bổng. Tổng trưởng quốc phòng Phạm văn Phú. Tổng trưởng ngoại giao Nguyễn thị Bình. Tổng trưởng tư pháp Trương như Tảng. Tổng trưởng nội vụ Vũ quốc Thúc. Tổng trưởng kinh tế Nguyễn văn Hảo. Tổng trưởng thương mại Lê quang Uyễn. Tổng trưởng tài chánh Trần ngọc Liễng. Xen kẻ nhau nếu tổng trưởng quốc gia thì Đổng lý văn phòng là người của MTGPMN, và ngược lại. Hội đồng cố vấn chánh phủ có: Nguyễn hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát, Thích trí Quang, Lương trọng Tường, Hồ tấn Khoa, Linh mục Chân Tín, Cựu thủ tướng Trần văn Hữu.
Hai mươi bốn giờ sau khi công bố thành phần chánh phủ, nước Pháp sẽ vận động các nước Âu Châu, Á Châu và các nước phi liên kết công nhận tân chánh phủ hòa giải Việt Nam, làm chậm lại bước tiến xe thiết giáp Liên Xô mưu toan đè bẹp Sài Gòn.
KẾ HOẠCH THỨ HAI
“Thưa Đại tướng, ông Nguyễn văn Thiệu để lại quân đội nầy còn bao nhiêu người? Hoa Kỳ để lại vũ khí nếu dùng được ở mức độ phòng thủ thì đuợc bao lâu ?
Đại tướng Dương văn Minh trả lời là ông chưa nắm vững quân số vì hơn chín năm ông không có dịp biết các bí mật quốc phòng.

  • “Thưa Đại tướng, đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi sẽ phúc trình cho đại tướng biết sau. Theo chúng tôi, quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn đủ khả năng chiến đấu thêm 10 tháng nữa, nếu các nhà quân sự chịu thay đổi chiến thuật từ quy ước sang du kích chiến. Ngay từ bây giờ Đại tướng còn 2 Quân đoàn. Phải dùng hai Quân đoàn nầy mặc cả cho thế đứng của phía quốc gia. Tôi tung liền giải pháp trung lập đồng thời tạo áp lực ngoại giao ngừng bắn 7 tiếng đồng hồ. Trong khi đó Đại tướng kịp thời chỉnh đốn quân đội và chọn các tướng lãnh có khả năng trường kỳ phản công. Tôi tin tuởng Việt Nam Cộng Hòa chưa thể thua và đích thực Bắc Việt đang lúng túng chưa biết họ sẽ chiến thắng bằng cách nào đây.

KẾ HOẠCH THỨ BA
Cùng lúc mời thành viên MTGPMN hợp tác trong chánh phủ trung lập, Đại Tướng tuyên bố sẳn sàng bang giao với Trung Quốc và các nước theo chủ nghĩa xã hội, dĩ nhiên trong đó có cả Liên Xô. Trung Quốc sẽ chụp lấy cơ hội nầy để cử Đại Sứ đến Sài Gòn ngay sau 24 giờ cùng với tiền viện trợ 420 triệu Mỹ kim là tiền sẽ trao cho Hànội mà nay trao cho chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Kế hoạch nầy đánh phủ đầu Hànội bằng cách đưa đứa con nuôi của họ là MTGPMN lên nắm chính quyền (một lực lượng mà từ trước đến nay Hànội vẫn ra rã trước dư luận là dân Miền Nam đứng lên chống Mỹ, chớ Hànội không có dính dáng gì hết).
Đi từng bước, lần lượt tân chánh phủ sẽ lật lại từng trang giấy ký ngưng bắn trong Hiệp Định Paris, giao cho Trung Quốc cưởng ép Hànội vào bàn hội nghị nói chuyện ngưng bắn tức khắc. Quả thật Trung Quốc muốn cứu sống MTGPMN để xây dựng ảnh hưởng của mình tại Đông Dương. Phe quốc gia cũng muốn cứu cấp Sài Gòn đừng lọt vào tay cộng sản . Như vậy hai quan niệm cùng có một mục đích, còn có thể dàn xếp được là tốt hơn cả, vì đừng để cho bên nào thắng.
Tôi cũng thông báo cho ông Minh hay là tôi đã liên lạc với thành viên MTGPMN. Hầu hết đều tán thành giải pháp giúp họ thoát khỏi vòng quỷ đạo của Bắc Việt. Họ chạy theo HàNội là muốn tiến thân sự nghiệp chánh trị bằng con đường hợp tác với cộng sản, nếu giúp họ nắm được chánh quyền Miền Nam thì phương tiện dùng cộng sản Bắc Việt đã quá lỗi thời.
Bà Bình từ đầu đến cuối đã hợp tác chặt chẻ với chúng tôi. Thêm một bằng chứng: 17 ngày sau khi Sài Gòn mất, bà Bình còn tuyên bố trước Liên Hiệp Quốc dụng ý tống khứ đạo quân Bắc Việt về bên kia Bến Hải: “Miền Nam Việt Nam sẽ sinh hoạt trong điều kiện trung lập 5 năm trước khi thống nhất hai miền Nam Bắc.”. Các nhà phân tích thời cuộc nói chỉ cần 5 tháng Miền Nam sống dưới chánh phủ trung lập thay vì có diễm phúc 5 năm, có lẽ hòa bình Việt Nam sẽ ở trong hoàn cảnh thơ mộng tươi đẹp rồi. Bà Bình bị thất sủng sau lời tuyên bố đó.
Nước Pháp sẽ trao 300 triệu quan chuyển tiếp từ chế độ Việt Nam Cộng Hòa giao cho tân chánh phủ để nuôi sống giải pháp trung lập. Chúng tôi sẽ quyên góp các nước bạn đồng minh Âu Châu một ngân khoảng độ 290 triệu mỹ kim cho các chương trình viện trợ kinh tế, văn hóa, phát triển nông nghiệp, nhân đạo v.v…tổng cộng cũng gần

bằng viện trợ của Hoa Kỳ trước đây.
Bấy nhiêu đó cũng đủ nuôi dưỡng tạm thời chánh phủ Dương văn Minh Trần văn Trà, để rồi người quốc gia tranh thủ với cộng sản duy trì một Miền Nam không nhuộm đỏ màu cờ.
Đại tướng Dương văn Minh không nói chi nhiều, ông lắng nghe tôi trình bày cặn kẻ từng kế hoạch, và nói ông sẳn sàng thực hiện theo quan điểm của chúng tôi. Ông chỉ nêu một câu hỏi duy nhất:

  • “Dưới hình thức nào tôi thay thế cụ Trần văn Hương để thành lập nội các để thương thuyết với phía bên kia?”
  • “Thưa Đại tướng, cụ Trần văn Hương hôm qua vừa thảo luận với chúng tôi là sẽ trao quyền chánh phủ Việt Nam Cộn,g Hòa lại cho Đại tướng, nếu Đại tướng có một kế hoạch không để mất Sài Gòn .” Sự thực từ lúc ôn,g Thiệu tuyên bố từ chức, ông Minh đã nhiều lần thúc hối chúng tôi tiến dẫn ông nắm chánh quyền ngay lúc ấy. Chúng
    tôi chưa nhận lời yêu cầu nầy. Chúng tôi chưa nhận lời yêu cầu đó vì chưa tiếp xúc được với thành phần MTGPMN. Hơn nữa ông Minh ra lãnh đạo guồng máy quốc gia không mang điều mà thế giới mong đợi sau khi Hoa Kỳ rút đi. Khi chúng tôi giới thiệu tướng Minh sẽ là nhân vật cho ván bài trung lập của Pháp tại Việt Nam thì cụ Trần văn Hương sửng sốt và tỏ vẻ phiền trách: “Nước Pháp luôn luôn bẻ nho trái mùa! Tưởng chọn ai chớ chọn Dương văn Minh, nó là học trò tôi, tôi biết nó quá mà. Nó không phải là hạng người dùng trong lúc
    dầu sôi lửa bỏng… Tôi sẽ trao quyền lại cho nó nhưng nó phải hứa là
    đừng để Sài Gòn thua cộng sản .” Có,sự hiện diện của ông Trần chánh Thành là người rất am tường thực chat cộng sản, chúng tôi giải thích với cụ là Bắc Việt rất sợ MTGPMN đoạt phần chiến thắng, công khai ra mặt nắm chánh quyền. Chúng ta nên nắm ngay nhược điểm của họ mà xoay chuyển tình thế. Nếu để một nhân vật diều hâu lãnh đạo, Bắc Việt sẽ viện cớ Việt Nam Cộng Hòa không muốn hòa bình rồi thúc quân đánh mạnh trong lúc quân đội chưa kịp vãn hồi tư thế phản công. Tạm thời dùng công thức hòa hoãn thôi.
    Cụ Trần văn Hương thông cảm kèm theo lời thở dài tỏ ra mất tin tưởng. Kế hoạch của chúng tôi vô tình đã đè bẹp tin thần chống cộng sắt đá của cụ. Theo cụ thì giải pháp hữu hiệu là bỏ ngỏ Sài Gòn, tổng động viên những vùng đất còn lại để tiếp tục đánh cộng sản. Chọn giải pháp nầy sẽ đổ máu thêm, nhưng chiến tranh nào mà ,không đổ máu, ít nhất Việt Nam Cộng Hòa không thua một cách mat mặt. Mười năm sau tôi thấy kế hoạch của cụ Trần văn Hương đúng. Nếu lúc bấy giờ các nhà lãnh đạo quân sự Miền Nam đừng bỏ chạy quá sớm,

yểm trợ cụ, thì có thể gở gạc được thể diện người Quốc gia Miền Nam. Tôi kính mến cụ già Trần văn Hương, Người Việt Nam nhận xét cụ bất tài, già nua lẩm cẫm, song chúng tôi thấy cụ là một người Việt Nam trung tín, sống chết cho lý tưởng, can đãm trước mọi tình huống. Năm 1976, nghe cụ bị bệnh nặng, thiếu thốn phương tiện chữa trị, chúng tôi yêu cầu Tổng lảnh sự Pháp ở Sài Gòn vận động với nhà cầm quyền HàNội cho cụ sang Pháp chữa bệnh. HàNội còn cần Pháp làm giao điểm tuyên truyền chủ nghĩa xã hội, sẽ không làm khó dễ trong việc cấp giấy xuất cảnh, nhưng cụ từ chối, quyết định ở lại chết tại Việt Nam . Chúng tôi vẫn nhớ lời cụ nói năm 1975: “Ông Đại Sứ à, tui đâu có ngán Việt Cộng, nó muốn đánh tui đánh tới cùng. Tui chỉ sợ mất nước, sống lưu đày ở xứ người ta. Nếu trời hại nước tui mất, tui xin thề ở lại đây và mất theo nước mình.” Cụ Trần văn Hương đã giữ lời hứa.
Đại tướng Dương văn Minh ra về, chúng tôi hẹn gặp lại nhau. Trong lúc nầy, về phía Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi không quên nhắc nhở đại tướng Dương văn Minh gấp rút tổ chức lại quân đội, liên lạc thường xuyên với tướng Nguyễn khoa Nam, khuyến khích vị tướng nầy giữ vững các vị trí phòng thủ để còn một mảnh đất làm địa bàn ăn nói khi thương thuyết với phía bên kia. Ngay lúc đó tôi biết ông Dương văn Minh cách đây hai ngày đã liên lạc với người em ruột là thiếu tướng Dương văn Nhật, nhờ môi giới để nói chuyện thẳng với Bắc Việt. Vì hấp tấp, nông cạn, ông tưởng em ông có đủ tư cách đại diện cộng sản ngưng bắn tại Miền Nam . Từ chỗ móc nối sai lệch, tình thế đã xỏ mũi ông đến chỗ phá nát bấy hết kế hoạch hòa bình Việt Nam .
(GHI CHÚ của dịch giả DHN: Dương văn Nhật không phải là một thiếu tướng mà chỉ là một thiếu tá thường, trực thuộc MTGPMN nên không phải là một nhân vật quan trọng. Cộng sản đã cho về liên lạc thường xuyên với Dương văn Minh trước đó như là một liên lạc viên xoàng để săn tin mà thôi, và đã được lệnh kín đáo nằm luôn tại nhà Dương văn Minh từ khi chúng tiến chiếm tỉnh Banméthuột. Có lẽ ông Dương văn Minh muốn đưa em ông lên hàng tướng vì lý do thể diện chăng? Sau 30/4/75 mới là trung tá)) LÊ ĐỨC THỌ THÓA MẠ TÔI
Chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia tự giới thiệu:

  • “Chào ông Đại Sứ, tôi là B trưởng B2 đây.”” Tôi chào lại và rất ngạc nhiên không biết B trưởng B2 là nhân vật nào.
    Thái độ thiếu lịch sự xã giao qua lời giới thiệu tên họ chức phận bằng bí danh của đầu dây bên kia chứng tỏ họ coi thường chúng tôi. Tôi gằn mạnh từng tiếng:
  • “Nếu đầu dây bên kia muốn trao đổi câu chuyện với tôi thì nên tỏ ra lịch sự một chút. Khi tiếp xúc với một nhà ngoại giao thì dù thù hay bạn cũng vậy. Thưa ông B trưởng B2, chắc ông thừa hiểu ông đang nói chuyện với Đại sứ nước Pháp, và bắt buộc tôi phải cúp nếu ông không nói tên họ, chức phận. Nguyên tắc của ngành ngoại giao đối lập với ngành gián điệp là không tiếp xúc với hạng người bí mật.”
    B2 xin lỗi tôi liền khi đó, bảo rằng ông ta sợ CIA phát hiện sự có mặt của ông ở Miền Nam trong lúc hoàn cảnh chưa cho phép ông xuất đầu lộ diện. Ông cũng rất phiền khi bị ép buộc nói tên họ:
  • “Thưa ông Đại sứ, tôi là Lê đức Thọ, Tổng tư lệnh chiến dịch Hồ chí Minh.” thì ra Lê đức Thọ, con người khuynh đão trong các cuộc hòa đàm Paris .
    Tiểu sử Thọ từ năm 1937 chúng tôi có đầy đủ trong tay, duy tôi chưa gặp mặt nên không nhận được giọng nói qua điện thoại. Sau Tết Mậu Thân, Phòng nhì Pháp đã có đủ tài liệu để biết Lê đức Thọ là Tổng chỉ huy bộ máy chiến tranh tại Miền Nam . Y từ Nga trở về hồi tháng giêng 1975, và đi thẳng vào Nam trực tiếp chỉ huy tổng tấn công Sài Gòn. Mà Phòng nhì biết thì CIA cũng biết. Tôi nói:
  • “Chào ông Tổng tư lệnh, qua vai trò trung gian và với thiện chí lớn lao nhất, nước Pháp hết lòng đứng ra hòa giải các phe tranh chấp để sớm đạt được một nền hòa bình tại Việt Nam. Ông Tổng tư lệnh có cần gởi đến chúng tôi những quyết định gì từ phía Bắc Việt nhằm tức khắc giải quyết chiến tranh không? Chúng tôi sẽ chào mừng quyết định của quí vị.’
    Thấy mình là kẻ chiến thắng trong canh bạc về sáng, Lê đức Thọ tố xa láng, không cần che đậy bề trái của sự thật nữa:
  • ” Quyết định của đãng cộng sản chúng tôi là đánh gục Mỹ, thống nhất hai miền Nam Bắc, xây dựng nước Việt Nam theo con đường Mác xít Lê nin nít”.
  • “Thưa ông Tổng tư lệnh, đó là mục đích. Còn quyết định chấm dứt cảnh cốt nhục tương tàn của người Việt, chưa thấy đãng cộng sản Việt Nam nói tới ?”
    Lê đức Thọ hùng hồn giảng thuyết (chỗ nầy ông Mérillon không cho biết Lê đức Thọ nói bằng tiếng gì, vì y nói tiếng Pháp còn kém lắm:
  • “Thưa ông Đại sứ, tôi xin nói về chính danh và ý nghĩa cuộc chiến đấu của chúng tôi. Sau khi đánh bại bọn đế quốc Pháp, đãng và nhân dân chúng tôi tiếp tục sự nghiêp đánh bọn ngoại xăm đế quốc Mỹ. Cuộc

chiến đấu nầy từ lâu đã được nhân dân thống nhất thành một phong trào chống Mỹ. Từ ngữ “cốt nhục tương tàn” tôi bảo đãm với ông đại sứ là do bọn tay sai ngụy quyền Sài Gòn khơi lên để kêu gọi lòng thương hại của chúng tôi, chớ không phải lời oán than từ phía nhân dân. Xác nhận như vậy để ông đại sứ thấy rằng chúng tôi chưa hề chính thức hóa một nghị trình hòa giải nào với bất cứ đãng phái nào tay sai trong Miền Nam với quyết định của chúng tôi là để thắng chớ không phải để hòa giải.”

  • “Thưa ông Tổng tư lệnh, trường hợp nầy thì vị trí của MTGPMN ở đâu?”
  • “Nó sẽ đứng ở chỗ giải tán khi: một là Đại sứ Mỹ bị bắt, hai là cuốn cờ bỏ chạy trước khi người cộng sản yêu nước tiếp thu Sài Gòn”.
  • “Nếu đúng như thế, M TGP MN không phải là một thực thể riêng biệt, tách rời quyền lực HàNội đứng lên chống Mỹ từ 15 năm qua, và các ông đã lừa gạt dư luận quốc tế.”
  • “Thưa ông Đại sứ, dư luận quốc tế hả ? Mà dư luận nào mới được chớ? Nếu dư luận quốc tế thuộc khối tư bản thì không xứng đáng để phẩm bình. Đối với nước Pháp chúng tôi xem là bạn. Thưa ông Đại sứ, chúng ta sẽ bang giao trong tình hữu nghị giửa hai nước.”
  • “Trung Quốc đang yêu cầu chúng tôi dàn xếp một cuộc đình chiến tại Việt Nam, ông nghĩ sao?
  • “Trung Quốc thuộc bọn xét lại, đã biến thể và phản bội nghĩa vụ giải phóng nhân loại qua chủ nghĩa Lênin. Mọi việc nhúng tay vào của Trung Quốc chúng tôi xem đó là hành động thù nghịch. Riêng ông Đại sứ, ngay bây giờ xin ông nhận lời cảnh cáo của chúng tôi. Nếu ông Đại sứ còn tiếp tay với Trung Quốc và các thế lực ngoại bang khác ngăn cản đà chiến thắng chống đế quốc Mỹ ở Miền Nam , thì 24 giờ sau khi tôi đặt chân vào Sài Gòn tôi sẽ trục xuất ông Đại sứ ra khỏi Việt Nam.”
  • “Làm như vậy ông không ngại gây sự hiềm khích giữa hai nước sao?”
  • “Không, Chánh trị và quyền lợi không chú ý tới những vấn đề nhỏ nhặt giữa hai nước . Pháp còn quyền lợi tại Việt Nam . Pháp đừng nên gây hấn với Việt Nam bằng giải pháp trung lập nầy nọ, cũng đừng nên chen vào nội bộ của chúng tôi.”
  • “Thưa ông Tổng tư lệnh, ông nên nhớ Pháp ngày hôm nay không phải là Pháp đô hộ ngày hôm qua. Pháp chẳng có quyền lợi gì nếu phải bang giao với một nước Việt Nam cộng sản. Nếu ông cảnh cáo chúng tôi , bù lại xin ông và đãng cộng sản Việt Nam tiếp nhận lời cảnh cáo của chúng tôi là số tiền 300 triệu hằng năm viện trợ Miền Nam va 200 triệu viện trợ nhân đạo cho Bắc Việt sẽ không được chuyển giao nếu

giải pháp trung lập bị bác bỏ một cách vô nhân đạo.”
Lê đức Thọ có vẻ căm tức, nhưng lần nầy vì lịch sự, y nói vài lời cáo lỗi rồi cúp điện thoại, đúng với ý muốn của tôi. Thật ra chúng tôi cũng vẫn biết cuộc chiến tranh nầy do tập đoàn HàNội quản lý từ đầu đến cuối, nhưng không trắc nghiệm được phản ứng ngang tàng của họ mà đại biểu chánh thức là Lê đức Thọ, nhất định nuốt Miền Nam bằng lá bài quân sự.
Sự kiện nầy đã khuyến khích tôi tìm kiếm những phương pháp cấp thời chỉnh đốn lại quân đội Việt Nam Cộng Hòa giữ vững phòng tuyến để kéo dài thời gian mặc cả.
Tôi rất ghét người cộng sản thiếu quân tử (đó là cái chắc!) khi họ thắng trận. Lê đức Thọ là một điển hình năm 1964. Thọ đã từng xin chúng tôi giúp y nói ,chuyện trực tiếp vớiHoa Kỳ, chúng tôi không hề từ chối. Bất cứ đieu gì cần đến, nếu thỏa mãn được thì chúng tôi
cho ngay. Họ có mang ơn nước Pháp chớ nước Pháp chưa hề chịu ơn họ. Đến khi nước Pháp muốn Việt Nam có hòa bình trên nền tảng trung lập có thành phần quốc gia tham dự, HàNội đã bạc ơn từ chối. Khi xe tăng Nga vượt hàng rào Dinh Độc Lập lúc 11 giờ sáng thì tới 3 giờ chiều Lê đức Thọ ngồi trên xe Falcon đến tòa Đại Sứ Pháp xấc xược đi thẳng vô phòng tôi nói:

  • “Mérillon, tôi đến đây tống cổ ông rời khỏi Sài Gòn trước 9 giờ sáng mai “ Tôi gật đầu. Sáng hôm sau ngày 1-5-75 , Thọ còn hạ nhục tôi bằng cách cho công an xét va li và bắt tôi phải ra HàNội trước khi về Pháp. Tôi phản đối. Khi phi cơ cất cánh, tôi ra lệnh cho phi công bay luôn sang Bangkok thay vì ra HàNội .
    Hành động sỉ nhục,một Đại sứ, Lê đức Thọ và công an Việt Nam phải trả một giá rất đat. Tổng số ngân quỷ viện trợ nhân đạo hằng
    năm nước Pháp quyết định để dành mua sinh mạng người Miền Nam Việt Nam không hề cho HàNội một cắt nào suốt 10 năm sau. Ngày 27 tháng 4/1975.
    Chiều ngày 27/4/75, tôi nhận được tin rất phấn khởi: Tướng Trần văn Trà bắn tin nhờ tôi cấp tốc thành lập chánh phủ trung lập và ông gởi gấp hai nhân vật thân tín của ông vào chánh phủ, là bà Nguyễn thị Bình và ông Đinh bá Thi (ông này bị HàNội giết vài năm sau bằng tai nạn xe hơi tại vùng Rừng Lá Phan Thiết, sau khi bị Hoa Kỳ trục xuất về tội mua tài liệu tình báo kỹ thuật cho Liên Xô – Lời dịch giả). Tùy viên quân sự của chúng tôi cũng xác nhận là 2 sư đoàn tập kết của Trần văn Trà sẽ vào tiếp thu Sài Gòn, phỏng tay trên của đạo quân Văn tiến Dũng.

CÁC TƯỚNG LÃNH Bị NHỐT TẠI BỘ TỔNG THAM MƯU
Chứng cớ mà Trần văn Trà lấn quyền HàNội trong mưu đồ Miền Nam tự trị được thể hiện ngay sau ngày 30/4/75 . Trần văn Trà chạy nước rút, tự ý thành lập Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Định hầu làm bàn đạp cho MTGPMN nhảy lên nắm chánh quyền trước khi Bắc Việt an bài chế độ cộng sản. Chung một mục đích: Bắc Việt đoạt chánh quyền để bành trướng chủ nghĩa cộng sản, còn MT GPM N cướp chánh quyền với thâm ý tạo sự nghiếp danh vọng cá nhân. HàNội có Nga Sô làm điểm tựa, có toan tính theo từng sách lược, còn MT là những chánh trị gia thời cuộc có tính cách giai đoạn nên cuối cùng bị thua trắng tay, bị cưỡng bức phải giải tán, cán bộ bị hạ từng công tác (hay thanh trừng) trong thầm lặng.
Dựa theo quan niệm “còn nước còn tát”, chúng tôi không bỏ lở một cơ hội nào có thể duy trì nhịp thở của Việt Nam Cộng Hòa đang hấp hối vào giờ cuối của cuộc chiến. Lúc 9 giờ tối ngày 27/4/75 , chúng tôi họp với các tướng lãnh De Séguins, Pazzi, Bigeard, Langlais, Vanuxem, Gilles, Pierre Bodet. Các tướng nầy đến Sài Gòn ngày 16/4 trong hảo ý phối hợp với các tướng lãnh Việt Nam từng được Pháp đào tạo trước kia để phản công lại Bắc Việt. Họ đến với tư cách cá nhân. Qua lời xác nhận của tướng Gilles, chỉ huy quân đoàn nhảy dù Pháp trong trận Điện biên Phủ, thì thiếu tuớng Phạm văn Phú không phải thuộc hàng tướng lãnh bỏ lính khi thua trận và chạy dễ dàng như vậy. Tướng Gilles yêu cầu tôi can thiệp với chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa trả tự do cho tướng Phú lúc đó đang bị ông Thiệu nhốt chung với các tướng lãnh khác trong Bộ Tổng Tham Mưu. Ông Thiệu đã làm một việc quá nguy hiểm.
Đang lúc quân đội cần tướng mà tướng lãnh bị tống giam, như vậy là có ác ý đập tan nát Bộ Tham Mưu Hành Quân của Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 29/4, tướng Phú nằm trong bệnh viện Grall. Tôi điện thoại trấn an ông, yêu cầu ông đừng bỏ đi sẽ tạo thêm tình trạng hỗn loạn hoang mang cho binh sĩ. Ông húa sẽ không bỏ chạy, nếu không phản công giữ được Sài Gòn thì ông thề bỏ xác tại bệnh viện nầy. Tướng Phú đã giữ lời hứa. Ông là một tướng lãnh mà chúng tôi hết sức tin tưởng trong ván bài trung lập sau Dương văn Minh. Tối 29/4, được tin Dương văn Minh sẽ đầu hàng cộng sản vào sáng mai, ông đã dùng độc dược tự sát.
Các tướng lãnh Pháp cũng đề nghị tôi thực hiện kế hoạch bỏ trống Sài Gòn qua 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1.- Rút phân nữa quân gồm lực lượng tự vệ, an ninh, cảnh sát, những binh đoàn nhảy dù, thủy quân lục chiến , biệt động

quân, và các binh chủng thuộc bộ binh, lén di chuyển lúc nửa đêm, sau lưng cộng sản đi lên các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Phước Long, với nhiệm vụ tái phối trí lực lượng và bồi dưỡng tinh thần binh sĩ. Phân nữa kia, gồm Hải quân và Không quân di chuyển về miền Tây để dùng cho các trận chiến sông ngòi, cắt đường tiến của cộng sản tràn xuống Quân khu 4 . Mời hai tướng Dương văn Minh và Trần văn Trà công bố chánh phủ trung lập. Sài Gòn là vùng phi quân sự nơi chỉ nói chuyện, thương thuyết bằng giải pháp chánh trị. Sài Gòn không có quân, cộng sản không có cớ đễ tàn phá.

  • Giai đoạn 2.- Phản công trên cơ sở du kích, chiếm lại lần hồi đất đai đã mất và chờ quân viện mới. Thay thế chánh phủ trung lập bằng một chánh phủ lưu vong Việt Nam Cộng Hòa. Vai trò Dương văn Minh đến đây coi như chấm dứt. Các tướng Phạm văn Phú, Nguyễn khoa Nam, Lê nguyên Vỹ, Ngô quang Trưởng được xem là thành phần chủ lực cho chiến trường tương lai.
    Các tướng lãnh hồi hưu Pháp quả quyết sẽ tìm được nguồn quân viện chẳng mấy khó khăn, qua sự đóng góp của các cựu quân nhân Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Do Thái… nếu có lời kêu gọi của Hiệp Hội Cựu Quân Nhân Thế Giới Tư Do.
    Sáng ngày 28/4/75 , tôi chuyển hết kế hoạch nầy cho Dương văn Minh và định tối 28 thì sẽ hoàn tất kế hoạch.
    KẾ HOẠCH CHƯA ĐƯỢC THỰC HIỆN?
    Đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi trình bày tỉ mỉ về quân số của đôi bên.
  • Quân cộng sản Bắc Việt hiện đang bao vây Sài Gòn gồm các sư đoàn 304, 308, 312, 320, 322, 325 và 2 sư đoàn MTGPMN, 300 thiết giáp, 600 đại bác đủ loại. Tổng cộng quân số khoảng 70.000, tính cả lực lượng trừ bị. Đúng như lời Trung Quốc thông báo, HàNội tung hết quân, bỏ ngỏ HàNội . Giá lúc ấy Trung Quốc chỉ cần cho một vài sư đoàn diễn binh trên biên giới Hoa Việt thì lập tức HàNội sẽ tự ý ngưng chiến và tán thành chánh phủ trung lập rất mau lẹ. Rất tiếc. – Quân số Biệt khu Thủ đô có khả năng tác chiến, có vũ khí trong tay ước được 100.000. Can cứ vào vũ khí đạn dược, hỏa lực nặng, tiếp liệu, và tinh thần chấp nhận chiến đấu thì Sài Gòn có thể phòng thủ, cầm cự được chừng 7 tháng. Trong 7 tháng đó biết đâu tình hình lại chẳng thay đổi theo chiều hướng khác? Chúng tôi đưa ra sự kiện nầy nhằm bác bỏ lập luận nói rằng cộng sản Việt Nam sẽ thiêu hủy Sài Gòn với số quân gấp 5 lần. Kinh nghiệm bọn Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh ngày 17 tháng 4/75,

đã xảy ra tình trạng chém giết hỗn loạn nguy hiểm đến sinh mạng Pháp kiều và các phóng viên ngoại quốc, cần Tòa Đại sứ Pháp che chở. Vì vậy ngày 19/4/75 tôi đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao Pháp tăng phái cho chúng tôi một trung đội thủy quân lục chiến từ Nouvelle Calédonia đến Sài Gòn để bảo vệ sứ quán. Lại yêu cầu các vị Lãnh Sự ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Đà Lạt, Hué gấp rút kiểm tra lại tổng số Pháp kiều, và phải tiếp tục ở lại nhiệm sở để trấn an dư luận. Khi đó có 722 người
là người Pháp chính gốc, 9500 người có quốc tịch Pháp, 11.000 trẻ em lai Pháp sống tại các cơ quan từ thiện. Tất cả 21.000 người nầy
sẽ được đưa về Pháp định cư. Tuy nhiên để cứu thêm mạng người, chúng tôi sẽ gởi cho HàNội danh sách đăng ký cho hồi hương thêm những người hồi tịch Pháp, cựu quân nhân tham dự bên cạnh quân đội Pháp trong hai thế chiến, công chức thời Pháp và nhân viên làm việc trong các cơ sở tư nhân Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Mỗi người hội đủ điều kiện như vừa quy định có thể kéo thêm gia đình anh em ruột thịt, con cháu dâu rể bên ngoại cũng như bên nội. Kết quả chúng tôi đem về Pháp tất cả 80..000 người. Để mua thêm người cộng tác với Pháp, mỗi năm chánh phủ Pháp phải trả cho cộng sản máy cày, dược phẩm, các bộ phận bảo trì công ty nhà đèn, thủy cục, nông phẩm v.v… Chiều 28/4, tướng Pazzi xuống Cần Thơ gặp tướng Nguyễn khoa Nam. Sau đó khi trở về tướng Pazzi cho biết miền Tây rất khả quan, chỉ có quốc lộ 4 tạm thời bị cắt đứt. Tướng Nguyễn khoa Nam đã hai lần yêu cầu ông Dương văn Minh cho phép ông đem quân giải tỏa Quốc lộ 4, phản công.., nhưng Dương văn Minh dặn đi dặn lại mấy lần là đừng phản công mạnh, tạm thời ở tư thế chờ, để ông tìm giải pháp chánh trị tại Sài Gòn. Tướng Nam than thở với tướng Pazzi: “Nếu tôi đánh mạnh là bất tuân thượng lệnh, nếu tôi đánh nhẹ thì tinh thần binh sĩ mất hết. Đến giờ nầy mà bức màng chánh trị còn bịt mắt quân đội. Ông nói lại với tướng Minh giùm là nước tràn bờ mà không cho đắp đê ngăn lại! Ông làm chứng giùm tôi: Quân đoàn 4 chúng tôi không thua. Chính trị Sài Gòn đã trói tay chúng tôi bắt buộc chúng tôi phải thua.” Sáng ngày 30/4/75, sau khi nghe Dương văn Minh đọc bản “trao nước cho giặc”, tướng Nguyễn khoa Nam cùng nhiều tướng lãnh liêm sĩ khác đã chọn câu nói của Voltaire để giữ danh dự của người làm tướng; “Còn giữ được danh dự là chưa mất mát nhiều.” Trời đã vào đêm rồi. Đại bác, súng liên thanh nổ gần hơn. Làn sóng người ngơ ngác tìm đường chạy trốn cộng sản nghẹt cứng cả thành phố. Ông Đại tướng Dương văn Minh đâu? Tướng Trần văn Trà đâu? Tại sao những người nầy không xuất hiện để thành lập chánh phủ liên hiệp? Tôi tự hỏi như thế.

Tôi lo lắng, gọi điện thoại về nhà ông Dương văn Minh. Người trả lời là trung tá Đẩu, chánh văn phòng: “Dạ thưa ông Đại sứ, Đại tướng chúng tôi hiện đi lên Xuân Lộc thương thuyết với người phía bên kia.”
Bỗng nhiên đầu óc tôi căng cứng từng mạch máu, tay chân bủn rủn. Ông Minh lên Xuân Lộc có nghĩa là gặp trực tiếp thượng tướng Lê đức Anh, phụ tá Văn tiến Dũng, nơi đây đang có mặt Lê đức Thọ. Tức là ông Đại tướng đi thẳng với phe Bắc Việt. Ông Minh đi trên tư thế nào? Quân không có, quan cũng không, chánh phủ chưa có gì hết. Như vậy chỉ là đi đầu hàng Bắc Việt. Công việc nầy không cần đến một Đại tướng! Trao cho một em bé đánh giầy 10 tuổi cũng làm được. Cái hướng mà ông Minh cần đi là hướng Củ Chi, nơi thượng tướng Trần văn Trà đang chờ… Chờ đến kiếp sau !
Những gì mà ông Minh hứa với chúng tôi đã như nước đổ lá khoai. Bao nhiêu kế hoạch, bao nhiêu công trình vận động, phút chốc ông Minh làm tiêu tan hết. Lại còn dối gạt các tướng lãnh yêu nước khác, gây ra sự chậm trể phản công giờ chót, bởi đa số đều tưởng ông Đại tướng có phép lạ, sáng chế được công thức ngưng bắn tại chỗ để phe quốc gia không bị thua trong nhục nhã.
Thâm ý của ông Minh là muốn đầu hàng, sau đó ngồi ăn, hưởng cho đến già.
(Lời dịch giả D.H.N.: Thật đúng như ông Mérillon đã nói, từ ngày 30/4/1975 cho đến ngày nay 1996, Dinh Hoa Lan của ông Minh không mất một chiếc đủa, không mất một cành hoa, một bụi cỏ nào. Khi ông rời Việt Nam để đi định cư ở Pháp với toàn bộ gia đình, ông được tự do mang theo bất cứ thứ gì ông muốn, từ những món đồ cổ đến những kỹ vật, thượng vàng hạ cám… cộng sản phải dùng mấy xe vận tải đưa các thùng tài sản của gia đình ông xuống bến tàu cho ông. Dinh Hoa Lan ở đường Testard, bất động sản riêng của ông được ông giao cho trung tá Khử giữ gìn và quản lý, đến giờ nầy không một tên cộng sản nào dám đụng đến. Trung tá Khử hiện là chủ một vườn trồng lan tại Thủ Đức, cuối thập niên 80 là tổng thơ ký của Hội Hoa Lan Việt Nam ).
Ngày 29/4/1975, 8.00 giờ tối, sau khi nhận lãnh chức Tổng Thống do cụ Trần văn Hương bàn giao lại, ông Minh điện thoại xin lỗi chúng tôi, bày tỏ sự hối tiếc đã không hợp tác được với chánh phủ Pháp. Cách duy nhất mà ông phải chọn là đầu hàng Bắc Việt mới mong cứu sống được thủ đô Sài Gòn. Tôi lạnh lùng trả lời một câu duy nhất:

  • “Thưa Đại tướng, chúng tôi cũng rất lấy làm tiếc. Giờ cuối cùng của chiến tranh Việt Nam cần có một người lãnh đạo cương quyết,

dám dấn thân, nhưng chúng tôi lại đi chọn lầm một bại tướng.” Tôi cúp điện thoại ngay, và từ 10 năm qua tôi không hề và cũng không muốn liên lạc với ông ta nữa.
NGÀY 1 THÁNG 5
Lúc phi cơ xoay qua một độ nghiêng, lấy hướng qua Bangkok , tôi nhìn xuống Sài Gòn lần chót. Tự nhiên trong lòng tôi dâng lên một niềm ngậm ngùi thương tiếc tất cả những gì đang xảy ra dưới đất. Tôi như người bại trận, hay nói cách khác, tôi xin được làm bạn với người bại trận, một người bạn đã không chia xẽ mà còn bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu hết tất cả … trong những ngày sắp tới. Việt Nam và tôi có rất nhiều kỹ niệm, có quá nhiều quan hệ mật thiết suốt đời không phai lạt. Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi cảm thấy thương xứ sở nầy. Tội nghiệp cho họ, họ có thừa khả năng dựng nước, nhưng cái quyền làm chủ quê hương đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt. Tôi xin lỗi người Việt Nam . Tôi đã làm hết sức mình nhưng không cứu vãn được nền hòa bình cho dân tộc Việt. Vĩnh biệt Sài Gòn, Sài Gòn vẫn hồn nhiên với những mạch sống dạt dào ơn nghĩa, một khi đã chọn bạn hữu thâm giao. Năm 1979, Đại sứ Võ văn Sung có thư mời tôi trở lại thăm Sài Gòn. Tôi từ chối với lý do không quen với cái tên Hồ chí Minh. Sài Gòn đã mất, tôi trở lại đó thăm ai? Ở đời có khéo lắm cũng chỉ gạt được người ta lần thứ hai, làm sao lừa dối được người ta lần thứ ba? Người cộng sản giả bộ ngây thơ (ở một khía cạnh nào đó) nên tưởng nhân loại cũng đều ngây thơ như họ. Liên tục nói dối hàng bao nhiêu năm, tưởng như vậy quần chúng sẽ nhập tâm tin là thật. Họ lầm. Nói láo để tuyên truyền chỉ có lợi trong chốc lát, nhưng về lâu về dài thì chân lý của loài người sẽ đè bẹp họ. Ngày xưa Liên Xô đã xiết chặt sai khiến họ, dùng Việt Nam làm phương tiện đóng góp cho Nga. Họ có muốn thoát ly, có muốn nhờ Tây Phương tháo gở cho họ cũng không được nữa, vì đã từng phạm lỗi lớn là đã lường gạt Tây Phương.. Sau hết, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua, nhưng thật ra người Việt Nam chưa thua cộng sản . Trận chiến chưa chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Mỗi năm, vợ chồng chúng tôi đều đi xuống Lourdes để kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi, chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam .
Jean Marie MÉRILLON
Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam

Tóm lược những nhận định của ĐT Paul Vanuxem về Cuộc Chiến Việt Nam:
1- “Có ai tin được là nền hòa bình nầy đây, dù có đạt được với bất cứ giá nào, thì đó cũng chỉ là một sự thất bại của Thế Giới Tự Do, đặc biệt là của Hoa Kỳ, kéo theo những nguy cơ mới cho nền an ninh của nước Pháp chúng ta?”
2- Hai chục năm về trước (1954), lúc đó vì quyền lợi nhất thời, người ta đã thỏa thuận chia cắt nước Việt Nam ra làm đôi thành hai miền Nam Bắc, tạm thời chỉ trong vòng hai năm thôi. Giải pháp nầy không tốt hơn biện pháp cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam bằng võ lực để tái thống nhất đất nước hay sao?
3- Sau hết, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua, nhưng thật ra người Việt Nam chưa thua cộng sản . Trận chiến chưa chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
4-Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi, chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam .

Chuong II. C10 ĐT William Westmoreland.(trang 909-936)

10- William Westmoreland:

William Childs Westmoreland

26 tháng 3, 1914(1914-03-26) – 18 tháng 7, 2005 (91 tuổi)

Biệt danh              Westy

Nơi sinh           Saxon, South Carolina

Nơi mất                Charleston, South Carolina

Phục vụ                 Hoa Kỳ

Thuộc Quân đội Hoa Kỳ Năm tại ngũ 1936 – 1972

Cấp bậc                 Đại tướng

Chỉ huy                Quân đoàn XVIII Nhảy dù Hoa Kỳ

Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam

Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ

Tham chiến Thế chiến thứ hai

Chiến tranh Triều Tiên

Chiến tranh Việt Nam

Khen thưởng Distinguished Service Medal (3)

Legion of Merit (3)

Bronze Star (2)

Air Medal

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

William Childs Westmoreland (26 tháng 3, 1914 – 18 tháng 7, 2005) là một tướng 4 sao của Hoa Kỳ. Ông từng giữ chức Tư lệnh Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam (Military Assistance Command Vietnam, MACV), từ năm 1964 đến năm 1968, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 đến 1972.

Con đường binh nghiệp

William C. Westmoreland sinh ngày 26 tháng 3 năm 1914 tại Saxon, Spartanburg, South Carolina. Ông tham gia và tốt nghiệp Học viện quân sự West Point năm 1936, sau đó phục vụ trong binh chủng pháo binh. Trong Thế chiến thứ hai, ông phục vụ trong Sư đoàn 9 Bộ binh Hoa Kỳ, tham chiến trên các chiến trường từ Bắc Phi, Tunisia đến Sicily và châu Âu. Tháng 7 năm 1944, ông được thăng quân hàm Đại tá giả định.

Sau Thế chiến, ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng khác nhau, trong đó có tham gia giảng dạy tại trường đào tạo sĩ quan chỉ huy và tham mưu Fort Leavenworth (1950-1951). Năm 1952-1953, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Lữ đoàn 187 Dù, tham gia chiến tranh Triều Tiên. Tháng 11 năm 1952, ông được thăng hàm Chuẩn tướng giả định.

Chiến tranh kết thúc, ông trở về làm Tổng Thư ký Bộ Tổng Tham mưu, dưới quyền tướng Maxwell D. Taylor (1955-1958). Tháng 12 năm 1956, ông được thăng Thiếu tướng giả định. Từ năm 1958-1960, ông là Tư lệnh Sư đoàn 101 Dù. Từ năm 1960-1963, ông làm Giám Đốc Học viện quân sự West Point.

Tháng 7 năm 1963, ông được thăng hàm Trung tướng giả định và cử giữ chức Tư lệnh phó Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam (MACV), dưới quyền tướng 4 sao Paul Harkins. Đến tháng 8 năm 1964, ông được cử làm Tư lệnh MACV thay tướng Paul Harkins, hàm Đại tướng giả định.

Giai đoạn Westmoreland nắm quyền tư lệnh MACV là giai đoạn quân Mỹ tham chiến tại Việt Nam cao nhất, cao điểm lên đến hơn 50 vạn người. Ông cũng là tác giả của chiến thật “Tìm và Diệt” (Search and Destroy), vốn bị chỉ trích nặng nề vì không thể ngăn cản được sự

phát triển quân sự của Quân Giải phóng. Ngoài ra, ông cũng không tiên liệu được Biến cố Tết Mậu Thân. Chính vì vậy, tháng 7 năm 1968, Tổng thống Johnson đã cử tướng Creighton Abrahams thay thế ông.

Ông trở về Mỹ và làm Tham mưu trưởng Lục quân. Ngày 30 tháng 6 năm 1972 ông hồi hưu và tham gia chính trường. Năm 1974, ông được đảng Cộng Hòa đưa ra ứng cử Thống đốc bang South Carolina, nhưng thất bại. Sau đó, ông cho xuất bản cuốn hồi ký có tên là “A Soldier Reports” (Tường trình của một quân nhân) nói về cuộc đời binh nghiệp của ông. Cuốn hồi ký này đã gây ra nhiều cuộc tranh luận.

Ông mất một cách bình lặng tại nhà riêng năm 2005.

Năm 1947, ông lập gia đình với Katherine S. Van Deusen, một người Mỹ gốc Hà Lan.

Chiến thuật “Tìm và Diệt”

Trong thời gian giữ chức Giám đốc Học viện West Point, Westmoreland đã thực hiện việc thay đổi giáo trình huấn luyện cho phù hợp với tình hình chiến tranh thời bấy giờ. Đó cũng là lý do ông được cử sang Việt Nam và nắm giữ quyền chỉ huy các lực lượng đồng minh tại Nam Việt Nam. Ông cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh không có chiến tuyến, vùng kiểm soát của 2 bên thường thay đổi và trộn lẫn vào nhau theo hình thái “da báo”. Ông đã đưa ra chiến lược: Bảo vệ vùng duyên hải và ngăn chận đường xâm nhập của đối phương, sau đó sử dụng chiến thuật “Tìm và Diệt” (Search and Destroy) để làm tiêu hao lực lượng của đối phương trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

Chiến thuật “Tìm và Diệt” thực hiện trên cơ sở ưu thế tuyệt đối về hỏa lực và khả năng cơ động của quân Mỹ, có thể nhanh chóng phát hiện và cơ động đến để tiêu diệt vị trí của đối phương. Bên cạnh đó, chủ trương thường xuyên mở các cuộc hành quân thẳng vào các căn cứ địa của đối phương không nhằm mục tiêu xâm chiếm và kiểm soát lãnh thổ, mà để tiêu diệt các bộ phận sinh lực đối phương. Quân Mỹ sẽ thực hiện phương án tác chiến “Tìm thấy, Tấn công và Thanh toán” (Find, Fix, and Finish), sau đó trở về căn cứ của mình và chuẩn bị cuộc hành quân khác.

Thực hiện chiến thuật này, hàng loạt các cuộc hành quân lớn của quân Mỹ ở Việt Nam như Attelboro, Cedar Falls, Gadsden, Tucson và Junction City được thực hiện. Tuy nhiên, hoạt động của quân Mỹ được đánh giá là không hiệu quả do chủ yếu được huấn luyện và trang bị để chiến đấu ở chiến trường châu Âu, nên gặp rất nhiều khó khăn khi phải

chiến đấu trong rừng rậm ở Việt Nam. Bên cạnh đó, viên tướng chỉ huy Quân Giải phóng là Nguyễn Chí Thanh cũng đưa ra những biện pháp đối phó hữu hiệu làm hạn chế sức mạnh của quân Mỹ như chiến thuật gài bẫy nhằm vô hiệu hóa sự cơ động, và đặc biệt là chiến thuật áp sát khi giao chiến (còn gọi là “Bám thắt lưng địch mà đánh”) làm hạn chế rất nhiều thế mạnh về hỏa lực của quân Mỹ.

Chiến thuật “Tìm và Diệt” gặp rất nhiều sự chỉ trích của các tướng lĩnh khác vì cho rằng vai trò của quân Mỹ tại Nam Việt Nam là thiết lập một số đầu cầu và bảo vệ những đầu cầu đó, để Quân lực Việt Nam Cộng hòa mở các cuộc hành quân tấn công đối phương; hoặc là để giúp bình định và chống chiến tranh nổi dậy chứ không phải để mở những cuộc hành quân. Một số kết quả chiến trường cũng đã chứng minh được Westmoreland đã thất bại. Vì thế, ông thường yêu cầu tăng thêm quân nhưng vẫn không thể ngăn chặn được sự phát triển của đối phương.

Tác phẩm

William C. Westmoreland, A Soldier Reports, Garden City, N.Y.: Doubleday, 1976.

Tướng William Westmoreland – Cuộc đời binh nghiệp và cuộc chiến tranh Việt Nam

http://www.voanews.com/vietnamese/news/a-19-2005-07-22- voa13-81605422.html?moddate=2005-07-22

Thứ Sáu, 22 tháng 7 2005

Tướng hồi hưu William Westmoreland, Tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 1964 đến năm 1968, đã qua đời hồi đầu tuần này lúc ông 91 tuổi tại Bang quê nhà là South Carolina. Cuộc đời binh nghiệp của ông trong những cuộc chiến mà Hoa Kỳ đã tham gia trên thế giới, trong đó có chiến tranh Việt Nam, đã được nhiều cơ quan thông tấn tại Hoa Kỳ nhắc đến cùng với những sự kiện đã đi vào lịch sử. Trần Nam trong Ban Việt ngữ của Đài VOA xin trình bày thêm một số chi tiết về viên Tướng mà tên tuổi của ông hầu như gắn liền với chiến tranh Việt Nam:

Đại Tướng William Westmoreland, một quân nhân xuất thân từ Trường Võ Bị Quốc Gia West Point của Hoa Kỳ từ năm 1936, đã được xem như là một người hùng trong Thế Chiến Thứ Hai với những chiến thắng oanh liệt tại Bắc Phi, Ý và những nơi khác ở châu Âu.

Tướng William Westmoreland cũng là một khuôn mặt không xa lạ đối với những người Việt trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam kể từ khi quân đội Mỹ bắt đầu hiện diện tại miền Nam Việt Nam. Với tư cách

là Tư Lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 1964 đến năm 1968, Tướng Westmoreland đã nắm quyền chỉ huy quân đội Mỹ trên chiến trường này, từ lúc chỉ có khoảng vài chục ngàn người mà hầu hết là cố vấn quân sự cho đến khi lên đến hơn 500000 người. Mặc dù quân số lên cao như vậy và viện trợ của Mỹ cũng gia tăng nhưng các lực lượng dưới quyền chỉ huy của Tướng Westmoreland vẫn không đạt được những thắng lợi quan trọng để thuyết phục được dân chúng tại Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ cuộc chiến đó.

Trong khi những cuộc biểu tình phản chiến tại Hoa Kỳ càng ngày càng gia tăng thì Tướng Westmoreland lại là người chủ trương xây dựng một lực lượng quân sự hùng mạnh của Mỹ tại miền Nam Việt Nam để giúp dân chúng tại đây chống lại một đối phương được hỗ trợ mạnh mẽ bởi các nước đồng minh Cộng Sản.

Trong thời kỳ làm Tư Lệnh các lực lượng Mỹ tại Việt Nam, Tướng Westmoreland đã sử dụng các chiến thuật truy lùng và tiêu diệt địch, cũng như bom lửa Napalm và thuốc khai quang để chống lại chiến thuật du kích chiến của đối phương, nhưng các nỗ lực đó đã không mang lại kết quả mong muốn.

Tướng Westmoreland cũng là người đã đề nghị tấn công vào các sào huyệt của quân Bắc Việt tại Campuchea, Lào và ngay cả tại miền Bắc Việt Nam, tuy nhiên những đề nghị của ông đã không được chấp thuận.

Sự hỗ trợ của nhân dân Mỹ dành cho cuộc chiến Việt Nam đã bị giảm sút mạnh vào lúc Tướng Westmoreland sắp hết nhiệm kỳ phục vụ tại Việt Nam, khi quân BắcViệt mở những cuộc tấn công bất ngờ vào nhiều thành phố lớn tại miền Nam Việt Nam trong thời gian đình chiến mà đôi bên đã thỏa thuận nhân dịp Tết Mậu Thân năm 1968.

Mặc dù bị tổn thất nặng nề và chỉ hiện diện trong một thời gian ngắn tại một số mục tiêu tấn công nhưng Cộng quân cũng đã làm cho công luận tại Hoa Kỳ lúc bấy giờ vô cùng sửng sốt khi thấy địch quân đã vào được tận Tòa Đại Sứ Mỹ tại thủ đô Saigon, dù chỉ trong vài tiếng đồng hồ.

Sau những cuộc tấn công bất ngờ đó, Tướng Westmoreland đã yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ gửi thêm quân đến Việt Nam để đối phó với tình thế mới nhưng Tổng Thống Lyndon Johson đã không chấp thuận lời yêu cầu này và đã ra lệnh hạn chế những vụ giội bom tại Bắc Việt.

Sau khi chấm dứt thời gian 4 năm phục vụ tại Việt Nam vào năm 1968, Tướng Westmoreland đã được gọi về nước giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Quân Đội, cho đến khi ông về hưu vào năm 1972.

Khi trở về nước, Tướng Westmoreland đã gay gắt chỉ trích chính phủ của các Tổng Thống Johnson và Nixon về phương cách đối phó với cuộc chiến tranh Việt Nam, trong đó có quyết định không chấp thuận mở những cuộc tấn công vào các lực lượng Cộng Sản tại Campuchea, Lào và Bắc Việt.

Ngoài ra ông cũng lên án truyền hình và báo chí Hoa Kỳ về những điều mà ông gọi là bóp méo sự thật khiến cho người dân trong nước quay ra chống đối chiến tranh Việt Nam.

Trong năm 1982 ông đã nạp đơn kiện hệ thống CBS đòi 120 triệu đô la vì đã phổ biến một phim tài liệu hàm ý cho rằng ông đã nói dối với Tổng Thống Johnson và với công luận Mỹ về sức mạnh của địch quân tại Việt Nam trong các báo cáo đệ trình chính phủ về tình hình chiến sự tại Việt Nam.

Sau 2 năm tranh tụng và 65 ngày xét xử, ông Westmoreland đã đạt được một sự dàn xếp với hệ thống truyền hình CBS, và ông đã rút đơn kiện trước khi có phán quyết của tòa. Báo chí không cho biết chi tiết về sự dàn xếp này nhưng đôi bên đều tuyên bố thắng cuộc.

Tuy không còn phục vụ trong quân đội nhưng tên tuổi của Tướng Westmoreland hầu như vẫn gắn liền với chiến tranh Việt Nam. Ông vẫn tiếp tục đi diễn thuyết tại nhiều nơi và tham gia vào các hoạt động của các tổ chức cựu chiến binh Mỹ.

Vào tháng 11 năm 1982, tức là nhiều năm sau khi những vết thương vì những bất đồng quan điểm về chiến tranh Việt Nam bắt đầu lành lại, Tướng hồi hưu Westmoreland đã tham gia một cuộc tuần hành tại Washington với nhiều ngàn cựu chiến binh Hoa Kỳ trong dịp lể khánh thành Bức Tường Tưởng Niệm Tử Sĩ, nơi khắc tên của hơn 58000 chiến binh Hoa Kỳ đã bỏ mình trong chiến tranh Việt Nam.

Ông nói rằng đây là một trong những việc làm đầy xúc động và kiêu hãnh nhất trong cuộc đời của ông.

Trong khi một số cựu quân nhân Hoa Kỳ bày tỏ sự hối tiếc về những việc làm của họ trong chiến tranh Việt Nam qua nhiều hình thức khác nhau thì Tướng Westmoreland vẫn giữ vững lập trường của ông về cuộc chiến đó.

Trong một cuộc phỏng vấn của hãng thông tấn Associated Press vào năm 1985, liên quan đến chiến tranh Việt Nam, ông nói rằng ông không có gì để xin lỗi, không có gì để hối tiếc. Ông đã làm hết sức mình để chu toàn trách nhiệm của một quân nhân. Vào năm 1985, trong lễ kỷ niệm đánh dấu 20 năm ngày Lữ Đoàn 173 Không Vận Hoa Kỳ được gửi sang chiến đấu tại Việt Nam, ông

Westmoreland đã nói với các chiến hữu rằng chúng ta không thua trong cuộc chiến tranh Việt Nam về mặt quân sự mà thật ra là vì Hoa Kỳ đã không giữ đúng những lời cam kết đối với nhân dân miền Nam Việt Nam.

Dù được xem như là một người hùng trong Thế Chiến Thứ Hai nhưng trong cuộc chiến tại Việt Nam Tướng Westmoreland đã bị nhiều người chỉ trích. Sử gia Arthur Schlesinger Jr. đã gọi ông là một nhà lãnh đạo quân sự tồi tệ nhất của Hoa Kỳ.

Tuy nhiên theo lời ông James Gregory, người đã phục vụ trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 1969 đến năm 1970, và hiện là chủ tịch Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tại Charleston, thì Tướng Westmoreland là một nhà lãnh đạo quân sự tài giỏi. Khi luận về sự thành bại của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tại Việt Nam, ông Gregory nói rằng chiến tranh Việt Nam, thật ra là do Tòa Bạch Ốc điều khiển chứ không phải là do các tướng lãnh trên chiến trường.

Dù có nhiều lời khen chê như vậy nhưng viên Tướng hồi hưu này vẫn không hề thay đổi quan điểm của mình về sự can thiệp quân sự của Mỹ tại Việt Nam, theo đó những nỗ lực của Hoa Kỳ trong khu vực này đã ngăn chận được làn sóng đỏ tại Đông Nam Á.

Tuy nhiên trong những ngày cuối đời dường như ông đã không nhắc đến chiến tranh Việt Nam và cũng không tìm cách biện minh cho bất cứ điều gì liên quan đến cuộc chiến đó.

WILLIAM C. WESTMORELAND http://vnthuquan.net/truyen/truyen

Sẽ không gỡ nổi cảnh rối ren chính trị ở Sài Gòn. Bất cứ trong hoàn cảnh nào. Nó diễn ra trong bối cảnh quyền kiểm soát trong chính phủ ở các tỉnh bị suy giảm, lực lượng của địch tăng lên, các cuộc tấn công táo bạo vào các cơ sở Mỹ, người ta tranh luận ngày càng sôi nổi là có thể làm được những gì để tránh thất bại của Nam Việt Nam. Có một điều nghịch lý là cho dù kiểm soát của chính phủ bị suy giảm nhiều ở các cấp xã và chính phủ đã phải bỏ ra một số vùng thì quân đội Nam Việt Nam, khi phải đương đầu với địch thì thường lại không co vòi bỏ chạy. Khi phải có một cuộc chiến đấu sống mái ở chiến trường, thì sự rối ren về chính trị lại ít có tác động đến hàng ngũ binh sĩ. Tác

động chỉ có ở cấp lãnh đạo bên trên – các tư lệnh quân đoàn và sư đoàn – những người không muốn liều mạng hoặc hành động một cách quyết định, đưa quân ra trận chừng nào kẻ địch không buộc họ phải làm như vậy. Nếu có làm điều gì, chính phủ rất có thể nói là họ đã làm điều sai trái. Vì lực lượng của địch tăng lên với những đơn vị cỡ tiểu đoàn hoặc lớn hơn nữa, các đơn vị quân đội Nam Việt Nam thường phải bỏ nhiệm vụ bình định, bỏ công tác phòng thủ tĩnh tại cho dân chúng để chống lại các đơn vị lớn của địch. Coi thường các đơn vị lớn là sẽ gặp tai hoạ. Đuổi theo địch mà không có lực lượng ít ra là tương đương thì cũng thất bại

Thương vong của Việt cộng vượt xa thương vong của quân đội Nam Việt Nam: theo báo cáo của chính phủ, trên 20.000 Việt cộng bị giết và bị bắt trong năm 1964 so với trên 7.000 người của phía Việt Nam (!). Thế nhưng Việt cộng hình như hoàn toàn có khả năng bổ sung quân số. Việt cộng phát triển rất nhanh, trong vòng một năm họ tăng thêm khoảng 85.000 người đã có quân số ước tính khoảng 170.000 người. Phần lớn được tuyển mộ ở miền Nam, điều đó phản ánh một cơ sở rộng rãi trong quyền kiểm soát của Việt cộng cũng tăng lên tới con số 12.000 người trong năm 1964.

….Một nhân tố góp phần vào đó là một loạt vũ khí mới mà Việt cộng bắt đầu sử dụng vào năm 1964, mà loại quan trọng nhất là súng tấn công do Liên Xô cung cấp, súng tự động AK-47, một thứ vũ khí ưu việt mà tốc độ hoả lực cao của nó đã tạo ra một tiếng nổ đinh tai tương tự như loại “đại bác burp” của Đức dùng trong Thế chiến II. Từ trước tới nay, Việt cộng chỉ sử dụng chủ yếu những vũ khí bắt được của quân đội Nam Việt Nam hoặc lấy được trong chiến tranh chống Pháp. Đến giữa năm 1964, Bắc Việt Nam bắt đầu cung cấp cho họ súng trường và súng máy có một cỡ duy nhất 7,62mm đưa từ Liên Xô và Trung cộng vào. Họ cũng cung cấp những súng phóng hoả tiễn hiện đại, súng cối và súng không giật. Phần lớn những thứ vũ khí này được vận chuyển bằng đường biển rồi được chuyển lén lút vào một số nơi trong vô số vũng nhỏ dọc bờ biển rất dài của Nam Việt Nam, lực lượng tàu thuyền của Nam Việt Nam trong khi cố sức bịt kín bờ biển đã gặp phải nhiều đặc điểm của một cái sàng. Mặc dù hoả lực tăng thêm đã làm cho việc tiếp tế đạn dược của địch thêm phức tạp nhưng việc này lại được khắc phục bằng lợi thế của việc tiêu chuẩn hoá và hiệu lực vũ khí tăng thêm. Đối chọi với vũ khí mới, quân đội Nam Việt Nam lại phải dùng những loại vũ khí của Mỹ từ thời Thế chiến II, trong đó có loại súng trường bán tự động M-1 và đối với các lực lượng địa phương và nhân dân thì dùng các loại carbine bán tự động M-2.

Từ tháng 10, chúng tôi đã biết rằng quân thâm nhập từ miền Bắc Việt Nam không phải chỉ có “những người tập kết” mà còn có cã lính chính quy và lính nghĩa vụ của quân đội Bắc Việt Nam….. WILLIAM C. WESTMORELAND

TƯỜNG TRÌNH CỦA MỘT QUÂN NHÂN

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1nnnvn1n 31n343tq83a3q3m3237n1n

Quyết định khó khăn nhấtĐúng như tôi đã hy vọng, ném bom miền Bắc đã nâng đỡ tinh thần của Nam Việt Nam, nhưng tôi dự kiến nó đã không có tác dụng rõ rệt đến ý chí của các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam tiếp tục chiến tranh. Sự phản ứng từng bước sẽ không có tác dụng, đặc biệt theo cách không kiên quyết mà Washington đã định ra để tiến hành chiến dịch này.

Số lượng máy bay bản thân nó đã hạn chế tác dụng và mặc dù đã có tất cả những tiến bộ và kỹ thuật kể từ Thế chiến II, ném bom vẫn còn là quá trình bị mất tác dụng vì ném không chính xác, đặc biệt là khi đánh vào những mục tiêu điểm được lựa chọn ở Bắc Việt Nam. Một số quan điểm của Mc Naugton là không thể tin được. Trong một chuyến đi thăm Sài Gòn đúng vào lúc tư lệnh không quân của tôi Joe Moore và tôi đã cố sức xin được quyền ném bom các nơi đặt SAM-2 (tên lửa do Liên Xô chế tạo) đang được xây dựng ở Bắc Việt Nam, Mc Naugton đã chế riễu yêu cầu cần thiết đó. Ông đã quở trách tướng Moore “ông đừng nghĩ rằng bắc Việt Nam sẽ sử dụng những thứ đó.

Đưa những thứ đó vào đúng là một thủ đoạn chính của người Nga nhằm làm yên lòng Hà Nội”.

Các nhà lý luận dân sự tinh ranh ở Washington nói rằng đó chỉ là một vấn đề về tín hiệu.

WILLIAM C. WESTMORELAND

TƯỜNG TRÌNH CỦA MỘT QUÂN NHÂN Cuộc khủng hoảng chính trị

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1nnnvn1n 31n343tq83a3q3m3237nnn

…Trong một buổi nói chuyện với tổng thống Johnson tại khách sạn của ông nhân có hội nghị Honolulu năm 1966, ông có hỏi tôi rằng nếu tôi là địch thì bước sắp tới tôi sẽ làm gì? Vì tôi thường nghĩ đến chuyện đó nên tôi có thể trả lời không chút do dự: Chiếm Huế. Để đi tới kết luận đó, không đòi hỏi phải sáng suốt lắm. Là kinh đô cũ, Huế tượng trưng cho một nước Việt Nam thống nhất. Chiếm Huế sẽ có tác động tâm lý sâu sắc tới người Việt Namở 2 miền Nam Bắc và trong việc làm này, Bắc Việt Nam có thể chiếm được 2 tỉnh phía Bắc của Nam Việt Nam để làm điểm mặc cả trong cuộc thương lượng.

Bị cắt rời khỏi phần còn lạicủa Nam Việt Nam bởi những ngọn núi cao và chỉ qua được nhờ đèo Hải Vân nằm sát biển, lại không có hải cảng, hai tỉnh đó đã đẻ ra những khó khăn nghiêm trọng về mặt phòng thủ.

Việc mất trại CIDG – lực lượng đặc biệt ở thung lũng A Shau tháng 3-1966, mở thung lũng đó cho kẻ địch vào, khiến cho quân Bắc Việt Nam tiến vào Huế hoàn toàn có thể xảy ra.

Hơn nữa, tôi có chú ý đến một bài báo đăng trên tờ báo chính thức của Bắc Việt Nam, tờ Nhân dân kể chuyện một sư đoàn Bắc Việt Nam

tập dượt thâm nhập lén lút băng qua một khoảng cách trên 50 km, b í mật tập hợp lại rồi tấn công bất ngờ. Tôi liền nghĩ ngay đến Huế, coi Huế có thể là mục tiêu cho một cuộc hành quân như vậy.

Từ tháng 2-1966, các tin tức tình báo đã bắt đầu cho thấy Bắc Việt Nam thâm nhập rất nhiều qua khu phi quân sự vào 2 tỉnh phía Bắc. Lúc tôi xem xét tình hình một cách cặn kẽ thì rõ ràng là có 2 sư đoàn Bắc Việt Nam. Họ đã đặt ra một mối đe dọa rõ ràng cho các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và cho Huế.

Việc quân Bắc Việt Nam tiến vào 2 tỉnh phía Bắc có một mục tiêu nữa là kéo quân Mỹ ra khỏi công tác bình định ở phía Nam, đây là một khả năng chắc chắn. Nhưng dù bị đánh như thế nào và dù tuyến phòng thủ qua đèo Hải Vân đã bảo vệ tốt hơn nhiều so với tuyến dọc khu phi quân sự, tôi vẫn không thể để mất 2 tỉnh đó.

Ảnh hưởng tâm lý đối với người Nam Việt Nam, chưa nói đối với nhân dân Mỹ, sẽ rất tai hại.

WILLIAM C. WESTMORELAND TƯỜNG TRÌNH CỦA MỘT QUÂN NHÂN

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1nnnvn1n 31n343tq83a3q3m3237n2n

Cuộc tấn công Tết

Người Mỹ không có cái lễ nào giống – dù là giống một cách xa xôi – với cái Tết của Việt Nam bắt đầu từ ngày đầu năm âm lịch. Dù so sánh nó với lễ Noel, lễ tạ ơn và ngày 4 tháng 7 cũng không đủ để nói lên tầm quan trọng mà người Việt Nam gắn cho những ngày Tết của họ. Trước Tết hàng mấy tuần lễ, các bà nội trợ Việt Nam đã gói bánh chưng bằng nếp dẻo bên trong những chiếc lá dong mùi rất thơm.

Người ta bày bán chè, bánh kẹo, rượu, nếp, mua sắm quần áo mới, trang hoàng nhà ở bằng các thứ hoa. Người thân chuẩn bị về quê làm lễ cúng ông bà, tổ tiên. Trẻ em mường tượng sẽ được mừng tuổi bằng kẹo chanh và giấy bạc 5 đồng. Không có gì – thậm chí cả một cuộc chiến tranh để sống còn – là có thể cản được lễ Tết.

Tết bắt đầu vào hôm trước ngày đcó khoảng 84.000 quân địch, chủ yếu là Việt cộng có kết hợp với quân thay thế của Bắc Việt Nam đã đánh vào 36 thành phố, thị xã của 44 tỉnh lỵ, 5 thành phố trong 6 thành phố tự trị, 64 trong số 242 quận lỵ và 50 ấp. Đó là cuộc tấn công trên một mặt trận rộng lớn.

Quân địch đã vào Sài Gòn, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn, thị xã Kontum, Buôn Mê Thuột, Đà Lạt, Phan Thiết, Mỹ Tho, Cần Thơ và Bến Tre. Trong phần lớn các trận này, dân vệ và quân đội Nam Việt Nam đã đẩy lùi được địch trong vòng hai, ba ngày, có trường hợp chỉ mất vài giờ; những cuộc chiến đấu ác liệt vẫn tiếp diễn nhiều ngày ở thị xã Kontum, Buôn Mê Thuột, Phan Thiết, Cần Thơ, Bến Tre và Sài Gòn, ở Huế thì chiến sự bị kéo dài.

Do bị mất trại CIDG – lực lượng đặc biệt ở thung lũng A Shau năm 1966 và do thiếu lực lượng để đánh chiếm lại, chúng tôi không có vật chướng ngại như Khe Sanh để chống lại sự thâm nhập của địch qua thung lũng A Shau tiến về hướng Huế. Lợi dụng sương mù, mây mưa thường có vào mùa này trong năm, ít nhất đã có 8 tiểu đoàn Việt cộng

và Bắc Việt Nam, tương đương một sư đoàn, thâm nhập cố đô Huế với sự giúp đỡ của những người dân thông đồng với họ.

Trong tất cả các mục tiêu của cộng sản trong cuộc tấn công Tết, Huế – với dân số 140.000 người, là thành phố lớn thứ ba của Việt Nam – có thể là nơi kém chuẩn bị nhất để đối phó với tình hình bất trắc. Mặc dù tôi đã báo cáo với Washington ngày 22 tháng 1, dự kiến sẽ có cuộc tấn công bằng nhiều tiểu đoàn vào Huế, tôi được biết sau đó vì lý do nào đó thông báo này không đến được với nhóm cố vấn nhỏ của MACV đóng ở một khu doanh trại nhỏ trong thành phố.

Trong ngày đầu của năm mới âm lịch 30 tháng 1, đã có những dấu hiệu rõ ràng của tình báo, cho thấy địch đang chuyển quân về Huế, nhưng tin đó trước hết phải được chuyển tới bộ chỉ huy lực lượng thủy bộ của lính thủy đánh bộ III ở Đà Nẵng để phân tích. Sau đó mới chuyển cho nhóm cố vấn nhỏ bé của Mỹ ở Huế thì thời gian có ích đã qua mất rồi.

Tuy nhiên đã có sự báo động được đưa ra vào phút cuối cùng. Các cuộc tấn công trước thời hạn của địch ở các nơi khác cộng với những tin tức khác, đã khiến cho con người chịu trách nhiệm bảo vệ Huế, tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh sư đoàn 1 của Nam Việt Nam, thấy rằng đã có chuyện gì đó đã xảy ra. Phần lớn quân của Trưởng đã ra ngoài thành phố nhưng bộ chỉ huy sư đoàn của ông vẫn ở Thành nội.

Trưởng đã báo động toàn bộ nhân viên của sư đoàn ông phải ở đêm tại sở chỉ huy.

Những việc đề phòng này sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho cuộc chiến tranh sau đó và đảm bảo cho quân Nam Việt Nam giữ được một bộ phận của Thành nội nhưng những việc đó không có giá trị gì nhiều đối với cuộc tấn công mở màn của địch. Địch đã vào Huế ban đêm.

Đến rạng sáng ngày 31 tháng 1, doanh trại cố vấn của MACV bị bao vây và phần lớn Huế đã nằm trong tay địch, kể cả phần lớn Thành nội Lá cờ màu xanh và đỏ với ngôi sao vàng của Việt cộng đã bay trên cột cờ thành Huế. Đây là lần duy nhất Việt cộng kéo được lá cờ của họ lên trong các mục tiêu tấn công của họ ở dịp Tết.

Lúc trận đánh bắt đầu, quân Việt Nam và lính thủy đánh bộ chiến đấu không dùng xe tăng, pháo binh và không quân yểm trợ vì muốn bảo vệ cái thành phổ rất giàu di sản quý báu này, nhưng vì địch bám giữ một cách dai dẳng nên cứ theo chính sách đó thì mất quá nhiều sinh mạng Mỹ và Nam Việt Nam. Tổng thống Thiệu bèn cho phép dùng bất kỳ phương tiện nào cần thiết để lấy lại thành phố. Sự tàn phá không tránh khỏi đã xảy ra. Khi quân Nam Việt Nam đã hạ được lá cờ của Việt cộng

sau 25 ngày chiến đấu thì phần lớn Thành nội và khu nhà ở của thành phổ phía Nam sông Hương đều bị hư hại. Trái với những tin tức đăng trên báo chí Mỹ, lâu đài và phần lớn các dinh thự khác của triều đình vẫn còn, nhưng Huế ở Việt Nam tượng trưng rõ nhất cho cảnh tàn phá của cuộc chiến đấu trên đường phố trong Thể chiến thứ hai.

Nhiều người Mỹ đã dính vào các trận đánh trong cuộc tấn công Tết: cố vấn của các đơn vị quân đội Nam Việt Nam, các đơn vị lẻ, quân lính đã đánh nhau với các đơn vị địch đang tiến về các mục tiêu tấn công, các phi công của không quân, các phi đội trực thăng quân cảnh.

Về cơ bản cuộc tấn công Tết là trận đánh của người Việt Nam: quân đội Nam Việt Nam, các thành phần khác của quân đội Nam Việt Nam, dân vệ, cảnh sát quốc gia; đó là những người góp phần chủ yếu đẩy lùi cuộc tấn công. Một số cá nhân riêng lẻ đã không làm tròn trách nhiệm, một chỉ huy nào đó đã tỏ ra kém cỏi, nhưng trên đại thể, khi đứng trước sự thử thách giai nguy, không một đơn vị nào của quân đội Nam Việt Nam là bỏ cuộc hoặc đào ngũ. Quân Nam Việt Nam đã hoàn toàn đáp ứng lòng tin cậy của tôi.

Tình trạng phá hủy đã xảy ra ở Sài Gòn, Huế, Bến Tre và các nơi khác là điều đáng phàn nàn nhưng là hậu quả không tránh khỏi khi kẻ địch đã quyết định đưa chiến tranh tới các thành phố lớn. Rút cục ở đây chính là bằng chứng không thể chối cãi về sự thiệt hại mà chiến tranh gây ra trong nhân dân.

Trừ ở Huế, phần lớn các trận đánh được coi là nằm trong cuộc tấn công Tết đều chấm dứt vào ngày 11 tháng 2, khoảng hai tuần sau khi bắt đầu, tiếp sau đó còn có những trận đánh ác liệt ở địa phương, phần lớn bằng súng cối và rocket cho đến ngày 18 tháng 2. Từ trận mở đầu trước thời hạn ngày 29 tháng 1 cho tới 11 tháng 2, cộng sản đã bị chết 32.000 người, 5.800 tên bị bắt, gần một nửa số quân thực sự tham chiến. Quân Mỹ chết 1.001 người, quân Nam Việt Nam và quân đồng minh chết 2.082 người. Đến cuối tháng 2, lục quân Mỹ và Nam Việt Nam càn quét các vùng chung tranh các thành phố và thị xã, sổ địch bị giết lên tới 37.000 tên.

Trừ trường hợp ở Huế là địch nắm giữ được một mục tiêu trong thời gian khá dài. Trong thực tế, thắng lợi của họ quá ngắn ngủi nên phần lớn các đơn vị Bắc Việt Nam, mà địch rõ ràng là đang chờ đợi để khai thác thắng lợi đã không hề tham chiến.

Cũng không hề có các cuộc nổi dậy của nhân dân. Nó đã nói rõ thêm một thất bại quân sự nổi bật của địch.

Trong một chỉ thị do Trung ương cục miền Nam, bộ chỉ huy của

Việt cộng, đưa ra ngày 1 tháng 2, kêu gọi tiếp tục tấn công, địch đã thừa nhận thất bại.

“Chúng ta đã không chiếm được các mục tiêu chủ yếu và hoàn toàn tiêu diệt các đơn vị cơ động và phòng thủ của địch. Chúng ta cũng không giữ được các, vùng đã chiếm được. Trên mặt trận chính trị, chúng ta đã không tnúc đay được nhân dân nổi dậy và đập tan ách kềm kẹp của địch”.

Nhưng dù quân đội Nam Việt Nam đã giành được thắng lợi đáng chú ý, đối với chính phủ, vẫn còn phải gác thắng lợi đó lại đã. Cuộc tấn công đã làm gián đoạn chương trình bình định ở nông thôn và các cuộc chiến đấu đã đẻ ra 600.000 người tị nạn mới. Nếu chính phủ không làm sống lại công tác bình định và bỏ mặc người tị nạn thì hậu quả nghiêm trọng tất yếu phải có.

Chiến tranh đã đẩy lùi đội bình định về các thành phố và thị xã.

Nhưng vì những nỗ lực tiếp tục của địch chỉ là những gợn sóng so với cuộc tấn công Tết và cũng vì Komer và các đại diện của ông ở chiến trường tiếp tục duy trì sức ép nên các đội đó dần dần trở lại nhiệm sở.

Rút cục thiệt hại do cuộc tấn công của địch gây ra cho công tác bình định không rộng lớn như mức người ta ước tính lúc đầu. Trong thực tế, việc xuất hiện nhiều tổ chức chính trị cơ sở hạ tầng của Việt,cộng trong cuộc tấn công để chờ đợi một cuộc nổi dậy của nhân dân ve lâu dài có nghĩa là công tác bình định đã bị bỏ lỏng.

Hơn nữa vấn đề tị nạn là những nhân tổ của một cuộc khủng hoảng thật sự. Chính phủ từ tổng thống Thiệu đến các bộ tỏ ra choáng váng. Tại cuộc họp của bộ tham mưu của tôi ngay vào ngày cuối cùng địch bị triệt ra khỏi Sài Gòn, tôi có nói chúng ta phải làm cho công tác theo cách người Mỹ đã làm khi gặp phải một thiên tai, một trận động đất hay một trận lụt, chúng ta phải thuyết phục tổng thống và các bộ trong chính phủ là họ phải làm việc suốt ngày đêm.

Nhưng làm thế nào đây? Nhìn quanh phòng, tôi chú ý tới George Foraythe. Nhớ lại trong một công tác đuợc giao trước đây, tướng Foraythe đã làm quen được với Tổng thống Thiệu và những người khác trong chính phủ; tôi bèn thành lập lực lượng đặc biệt dưới quyền Foraythe để cộng tác chặt chẽ với người Việt Nam. Đại sứ Bunker đã ngỏ ý cùng t ôi gặp tổng thống Thiệu về kế hoạch này. Bob Komer sẽ chịu trách nhiệm giám sát kế hoạch này.

Thiệu tỏ ra rất hiểu vấn đề này. Ông đã dành cho tướng Foraythe một văn phòng trong dinh Độc Lập – do một người Mỹ cầm đầu – cùng cộng tác với một người trong bộ bình định và giao cho phó tổng thống

Kỳ chịu trách nhiệm bao quát. Để là cho chương trình được tiến hành nhanh chóng, tôi đã bố trí sẵn sàng công binh Mỹ và cho phép họ sử dụng rộng rãi các kho của Mỹ để lấy tôn lợp nhà, xi măng cốt sắt và các vật liệu xây dựng khác. Tướng Viên cũng làm theo cách như vậy và bố trí sẵn sàng công binh của quân đội Nam Việt Nam tham gia. Các trung tâm tị nạn tạm thời được thanh toán để có chỗ xây dựng nhà mới. Gạo Mỹ được phát không để thanh toán giá chợ đen.

Trong vòng mấy ngày, những người tị nạn đã thấy rằng dù cuộc sống của họ còn khó khăn nhưng chính phủ đang cố gắng giúp đỡ họ. Cũng như nhân dân Việt Nam từ nhiều năm nay, những người tị nạn đã biểu thị sức mạnh vươn lên đáng khen.

Địch đã chứng minh được rằng chính phủ không có khả năng đẩy họ ra khỏi các thành phố và thị xã. Cuộc tấn công Tết rốt cuộc đã tỏ ra đó là một sự kiện có giá trị làm phấn chấn trong lòng nhân dân Nam Việt Nam kể từ ngày nổ ra cuộc chiến tranh.

Địch đã giành được thắng lợi ở Mỹ về mặt tâm lý, cái thắng lợi có ảnh hưởng đến mức tổng thống Johnson và các cố vấn dân sự của ông đã quên mất phương châm là khi địch đang bị đánh đau thì không được giảm bớt sức ép mà phải tăng lên.

Qua cuộc tấn công Tết, làm tôi nhớ lại một bức thư mà bố tôi đã viết cho tôi năm 1944 trong trận Bulge và đến nay tôi đã rút ra từ trong hồ sơ lưu trữ của tôi.

Bố tối viết: “Trong một số nhà bình luận có khuynh hướng chỉ trích các tướng Eisenhower và Hodges vì đã không có C-2 (tình báo) tốt hơn lại để cho lĩnh vực này được bảo vệ một cách quá kém cỏi. Bố có ý kiến là hoặc chúng ta hoặc quân Đức có thể phải tập trung lực lượng to lớn vào một địa điểm nào đó mà chọc thủng một nơi mình muốn, vào thời điểm do mình lựa chọn. Nhưng sau khi đã tiêu phí sức mạnh đi như vậy thì còn gì nữa? Những cánh quân đó giống như một viên đạn. Khi còn nằm ở mũi súng thì viên đạn có sức công phá mạnh nhưng khi sức công phá đó đã bị tiêu phí đi thì viên đạn trở thành vô hại”.

Bố tôi không phải là nhà quân sự nhưng ông hiểu đúng vấn đề.

WILLIAM C. WESTMORELAND
TƯỜNG TRÌNH CỦA MỘT QUÂN NHÂN
Nhìn lại

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1nnnvn1n 31n343tq83a3q3m3237ntn

Bất cứ ai có chú ý qua loa đến các điều khoản của hiệp định đình chiến Paris năm 1973, kể cả người Mỹ đã thương lượng nó dưới sức ép đòi rút quân và đưa tù binh Mỹ về nước, Henry Kissinger hẳn là có thể thấy rõ cái thế bất lợi mà chúng ta đã buộc người Nam Việt Nam phải chịu. Khi tôi nói rõ ràng tôi đã thật sự hoang mang với hiệp định đó cả trong quá trình thương thuyết cũng như sau khi hiệp định đã ký kết, tôi chẳng hề muốn khoe khoang là mình đặc biệt sáng suốt.

Mùa thu năm 1972, trong khi cuộc thương lượng về ngưng bắn đang được tiến hành, tôi đã chuấn bị một bài theo yêu cầu của các chủ bút New York Times, trong đó tôi có bàn tới các khả năng về một giải pháp ở Nam Việt Nam. Sau khi trao đổi ý kiến với văn phòng Henry Kissinger vì sợ rằng những nhận xét của tôi sẽ gây ra vấn đề gì ở Paris, tôi đã giữ lại không đăng bài báo đó; nhưng vì giải pháp cuối cùng ở Nam Việt Nam đã có, tôi thấy một số những điều nhận xét của tôi là đáng chú ý.

Tôi viết: “Theo ý kiến tôi, một nền hòa bình sớm sủa ở Đông Dương là một ảo tưởng. Và tôi cũng cho rằng một cuộc đình chiến có khả năng giữ được không phải là một triển vọng thực tế…”. Tôi nêu rõ ràng không có gì đáng là ngạc nhiên, Bắc Việt Nam sẽ kêu gọi đình chiến sau khi đã giành được những lợi thế trong cuộc tấn công lớn của họ năm 1972. Trừ phi hiệp định buộc phải rút lui, còn không, ít ra họ sẽ giành lấy chủ quyền thục tể đối với các bộ phận đó ở Nam Việt Nam mà họ đã chiếm được và chắc chắn sẽ chuyển quân tới những vùng xa xôi của Nam Việt Nam, đặc biệt là ở cao nguyên Trung phần, lúc đó chưa bên nào chiếm được. Điều này sau đó xảy ra trong thực tế đã tạo điều kiện cho Bắc Việt Nam đánh thọc sườn vào toàn bộ hai phần ba phía Bắc của Nam Việt Nam.

Tôi còn nhấn mạnh, như tôi đã nhấn mạnh khi nói chuyện với tổng thống Nixon hồi tháng 10, là điều có tính chất sống còn là phải làm sao cho tất cả quân đội Bắc Việt Nam rút khỏi Nam Việt Nam. Nếu chúng ta tiếp tục ném bom Bắc Việt Nam và duy trì mìn ở cảng Hải Phòng – điều này đã khiến Bắc Việt Nam đi vào những cuộc thảo luận có ý

nghĩa đầu tiên – tôi tin rằng chúng ta có thể làm cho họ rút quân và đạt được mục tiêu của chúng ta là đảm bảo cho Nam Việt Nam một cơ hội hợp lý để sống còn.

Sau khi có thông báo đầu năm 1973 là một hiệp định đình chiến đã được ký kết, tôi đã nhắc lại một số quan điểm đó. Với một nhà báo ở Charleston, bang Carolina, của tờ News and Courier, nhưng yêu cầu không công bố nội dung cuộc phỏng vấu này cho các hệ thống truyền thanh trong nước vì sợ những nhận xét của tôi trên một mức độ nào đó có thể cản trở những việc công chúng chấp nhận cuộc đình chiến. Tôi nói tôi hết sức nghi ngờ là Bắc Việt Nam sẽ ngừng mọi cố gắng của

họ chinh phục miền Nam. Tôi nhận xét “Tôi hy vọng là chúng ta dù sao cũng không trói tay người Nam Việt Nam khiến họ không được có những hành động thích đáng để đảm bảo an ninh cho nhân dân Nam Việt Nam.”

Theo ý kiến tôi, nước Mỹ đã ký một hiệp định quốc tế long trọng có liên quan đến vận mệnh của nước khác và khi làm như vậy là đã có một nghĩa vụ tinh thần rõ ràng phải đảm bảo cho hiệp định đó được thi hành. Theo các thủ tục của công pháp quốc tế đã được thừa nhận, lúc một bên vi phạm một hiệp ước thì bên kia sẽ không còn bị hiệp ước ràng buộc nữa và có thể thi hành biện pháp trừng phạt, kể cả việc gây lại xung đột. Chắc chắn đây là điều tổng thống Nixon đã cam kết khi nói rằng nếu Bắc Việt Nam vi phạm hiệp định, Mỹ sẽ “phản ứng mạnh mẽ”, đương nhiên có nghĩa là phản ứng bằng bom đạn của Mỹ.

Nhưng khi cần phải dùng đến thì cái công cụ này đã loại bỏ vì tình trạng bất lực đã gây ra do vụ bê bối Watergate áp đặt lên chính phủ ở Washington và vì năm 1973, Quốc hội đã có quyết định cấm chi tiền cho một hành động chiến đẩu của Mỹ nếu không được Quốc hội chuẩn y. Tổng thống Ford đã không có cố gắng nào để yêu cầu Quốc hội chuẩn y hành động chiến đấu mới và trong số 12 nước ngoài Mỹ và Nam Việt Nam hình thành nên hội nghị quốc tế ở Paris để đảm bảo cho hiệp định đình chiến, cũng không có nước nào thậm chí chịu lên tiếng phản đối những hành động vi phạm của Bắc Việt Nam.

Sau những năm dài chi viện và chi phí rất lớn về sinh mạng và của cải, cuối cùng Mỹ đã bỏ Nam Việt Nam. Không có cách nói nào chính xác hơn thế. Chúng ta chẳng những không phản ứng trước những hành động vi phạm của Bắc Việt Nam đối với một hiệp định quốc tế long trọng mà chúng ta cũng không đọ sức được với sự chi viện vật chất mà các cường quốc cộng sản đã cung cấp cho Bắc Việt Nam. Thậm chí chúng ta cũng không thay thế tất cả các vũ khí và trang bị của Nam Việt Nam đã bị tiêu hủy, điều mà chúng ta có quyền làm theo các hiệp định

về đình chiến. Và rõ ràng là khi Nam Việt Nam bắt đầu sụp đổ, quốc hội Mỹ lại triệt bỏ mọi sự giúp đỡ.

Đương nhiên là thể hiện thái độ của đa số nhân dân Mỹ, Quốc hội đã mệt mỏi vì cuộc chiến tranh Việt Nam. Các báo trích lời Thượng nghị sĩ Mike Mansfield nói “Viện trợ thêm có nghĩa là thêm giết nhau, thêm đánh nhau. Chuyện này phải chấm dứt đi thôi”.

Việc giết nhau có thể đã chấm dứt trước khi bắt đầu từ cuối những năm 1950 nếu nhân dân Nam Việt Nam và các nhà lãnh đạo của họ sẵn sàng từ bỏ quyền tự do, quỳ gối trước những chế độ chuyên chế độc tài. Việc giết nhau tiếp diễn chủ yếu vì Bắc Việt Nam tiếp tục hành động xâm lược của họ nhưng cũng vì hàng triệu người Nam Việt Nam thà chấp nhận khả năng bị giết chết còn hơn là quỳ gối trước chủ nghĩa cộng sản.

Kể từ những ngày ký hiệp định Genève năm 1954, người tỵ nạn luôn chạy trốn vào Nam, chứ không ra Bắc và thậm chí có những người Mỹ từ lâu vẫn nghĩ rằng người tị nạn không chạy trốn trước kẻ địch mà chỉ chạy trốn bom đạn của Mỹ cũng đã thừa nhận rằng ngay sau khi bom đạn của Mỹ đã chấm dứt, rất nhiều người cũng còn chạy vào Nam. Tình hình là như thế cho đến khi xảy ra sự kết thúc cuối cùng đáng thương hại.

Đúng như Tôn Tử đã nói: “Không bao giờ có một cuộc chiến tranh kéo dài mà một nước nào đó thu được lợi cả”. Cũng cần nhớ lại câu nói của quận công Wellington, nguyên lão nghị viện Anh: “Một nước lớn không thể tiến hành một cuộc chiến tranh nhỏ”.

Bản thân tôi đã tóm tắt lời nói đó tại Hội nghị Honolulu tháng 2-1966: “Sẽ đến một lúc mà trong mọi trận đánh – trong mọi cuộc chiến tranh – hai bên đã trở nên chán nản trước yêu cầu như vô tận đòi hỏi phải nỗ lực nhiều thêm nữa, phải có tài lực nhiều thêm nữa và phải có lòng tin thêm nữa. Đến lúc đó, bên nào xông lên với sức mạnh mới tăng lên thì bên đó sẽ thắng”.

Nhân dân Mỹ đã mệt mỏi vì một cuộc chiến tranh đã kéo dài hơn 17 năm, một cuộc chiến tranh mà trong đó con em của họ đã trực tiếp dính líu vào với một vai trò chiến đấu trong hơn 7 năm, một cuộc chiến tranh mà trong đó nền an ninh có tính chất sống còn của nước Mỹ đã không và có thể không được chứng minh và được thấu hiểu rõ ràng. Nhưng tình hình không nhất thiết phải diễn ra như vậy.

Từ năm 1963 đến 1965 chẳng hạn, khi sự hỗn loạn về chính trị đã cấu xé Nam Việt Nam, từ khi tình trạng thiểu đoàn kết trong cái xã hội đồng nhất của nước đó đã trở nên rõ ràng thì Mỹ vẫn có thể vứt bỏ sự

cam kết của mình một cách chính đáng và trong danh dự mặc dù không phải không có sự phản ứng chính trị mạnh mẽ trong nước. Nếu tổng thống Kennedy không cam kết là đất nước này sẽ chịu mọi gánh nặng sẽ đương đầu với mọi gian lao khó khăn, sẽ ủng hộ bất kỳ bạn bà nào và chống lại bất kỳ kẻ thù nào để đảm bảo sự sống còn và thắng lợi của tự do thì sao? Quả thật Việt Nam có thể đã phục vụ cho một mục đích của John F. Kennedy. Sau cuộc gặp gỡ tai hại của ông với Khrushchev ở Vienne năm 1961, Kennedy có nói với James Reston, thuộc báo New York Times: “Bây giờ đây chúng ta có một vấn đề là phải làm người tin vào sức mạnh của chúng ta và Việt Nam xem ra là nơi để thể hiện điều này” (theo Neil Gilteett, báo Melbourne Australian Herald 30-4-1975).

Thậm chí ngay sau khi đã đưa quân chiến đấu Mỹ vào Nam Việt Nam năm 1965, chiến tranh có thể chấm dứt được trong vòng ít năm, trừ trường hợp không thi hành chính sách sai trái là trả đũa từng bước chống Bắc Việt Nam. Ném bom một ít, ngừng lại một thời gian để cho địch kêu trời, rồi ném hom một ít nữa nhưng không bao giờ đánh đau thật sự. Đó không phải là cách để thắng.

Nhưng dù có gặp phải trở ngại của việc trả đũa từng bước, chiến tranh vẫn có thể đưa tới một sự kết thúc thuận lợi sau thất hại của địch trong cuộc tấn công Tết năm 1968. Lúc đó Mỹ đã có ở Nam Việt Nam lực lượng quân sự tinh nhuệ nhất chưa hề có – mặc dù chưa phải là lực lượng lớn nhất. Nếu tổng thống Johnson thay đổi chiến lược và lợi dụng thế suy yếu của địch cho phép tôi tiến hành các cuộc hành quân mà chúng tôi đã trù tính hai năm trước, đánh sang Lào, Kampuchia và phía Bắc khu phi quân sự, song song với việc tăng cường ném bom và thả mìn cảng Hải Phòng thì chắc chắn Bắc Việt Nam sẽ bị đập tan.

Nhưng tình hình đã không diễn ra như vậy. Báo chí và truyền hình đã tạo ra một vầng hào quang không phải thắng lợi mà là thất bại kết hợp với những phần tử chống chiến tranh to mồm nên đã ảnh hưởng sâu sắc đến các quan chức nhát gan ở Washington. Nó giống như hai võ

sĩ quyền Anh trên võ đài, một võ sĩ đã đẩy võ sĩ kia tới đích, sắp hạ cú knoc out thì anh võ sĩ rõ ràng sắp thắng này bỗng nhiên bỏ cuộc.

Ngoài việc phạm sai lầm nghiêm trọng không khai thác thất bại của địch trong cuộc tấn công Tết, và rút cục bỏ Nam Việt Nam, Mỹ đã có những sai lầm nghiêm trọng khác về chiến lược ở Nam Việt Nam và Đông Nam Á! Chờ đợi quá lâu không tấn công sang Lào và Kampuchia và thậm chí khi đã tấn công thì lại làm giảm hiệu quả của nó bằng những hạn chế này khác; không chứng minh cho Bắc Việt Nam thấy họ dễ bị đánh tan ở phía Bắc khu phi quân sự, trì hoãn quá lâu mới tổ chức một đoàn bình định có sức sống ở Nam Việt Nam, thực hiện quá chậm

việc trang bị lại cho quân đội Nam Việt Nam, đặc biệt là súng M.16; không thành lập một lực lượng quốc tế dọc khu phi quân sự; đình chỉ việc ném bom vào kẻ địch do đó đã tạo điều kiện dễ dàng cho Bắc Việt Nam tăng cường binh lực để mở cuộc xâm lăng chính quy năm 1972; không đảm bảo một hệ thống chỉ huy mạnh của quân đội Nam Việt Nam ở các tỉnh phía Bắc để đón trước cuộc tấn công năm 1972, tuy không phải là một sai lầm chiến lược theo ý nghĩa thông thường nhưng lại có tác động chiến lược, chính sách cho hoãn quân địch để học tập đã tạo ra một cuộc chiến tranh của người lao động nên đã góp phần gây ra sự bất mãn ở trong nước.

Nhiều sai lầm có thể truy nguyên ở sự kiểm soát quá chặt chẽ của Washington đối với việc tiến hành chiến tranh, một chính sách phát sinh từ sự thất bại của vụ Vịnh Con Lợn ở năm 1961 – chứng minh những hiểm họa của chính sách phi tập trung – và từ kết quả thành công của cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, một chính sách hình như đã chỉ rằng sự chỉ huy của Nhà Trắng là cách duy nhất để xử lý khủng hoảng và chiến tranh trong kỷ nguyên nguyên tử. Thế nhưng lại không hề thành lập một tổ chức trung ương ở Washington có khả năng thực thi sự kiểm soát cần phải có; rút cục chỉ có tổng thống là có thể đề ra một quyết định và chỉ đề ra quyết định sau khi đã nghe vô số những tiếng nói đôi khi mâu thuẫn nhau.

Thành lập một bộ chỉ huy thống nhất cho toàn bộ Đông Nam Á sẽ làm giảm bớt được rất nhiều lối tập trung quyền hành chưa từng có ở Washington và lối chăm chú đến những chuyện quá vụn vặt của các cấp ở Washington. Một tư lệnh thống nhất được sự chỉ đạo rộng rãi về chính sách và có một cố vấn chính trị sẽ làm giảm bớt những chuyện tranh cãi có tính chất quan liêu đã xảy ra ở Washington và đã dẫn tới kết quả là các quyết định về quân sự phải chịu những ảnh hưởng mạnh mẽ của các quan chức dân sự – tuy họ có thiện chí đấy nhưng lại thiếu hiểu biết về quân sự. Thay vì có 5 “tư lệnh” CINCPAC, COMV MACV, và các đại sứ Mỹ ở Thái Lan, Lào và Nam Việt Nam – lẽ ra phải có một người chịu trách nhiệm trực tiếp với tổng thống về mọi vấn đề mặc dầu kiểu tổ chức này có thể gây ra những chuyện thắc mắc nho nhỏ trong nội bộ hội đồng tham mưu trưởng liên quân vốn có tính suy tỵ cho quân chủng mình, nhưng xưa nay hội đồng tham mưu trưởng liên quân vẫn tán thành mỗi khi tổng tư lệnh đã quyết định. Một cách bố trí như vậy sẽ loại trừ được vấn đề phối hợp giữa các cuộc chiến tranh trên không, và dưới bộ là cái tất yếu phải có khi CINCPAC quản lý một phần và MACV quản lý phần kia.

Có ảnh hưởng đến nhiều quyết định quan trọng là một mối lo sợ gần 928  LONG ĐIỀN

như có tính chất tinh thần về một cuộc chạm trán hạt nhân với Liên Xô và một mối lo lắng về sự tham chiến của quân đội Trung cộng. Về các vấn đề này, các cố vấn của tổng thống đã tỏ ra lo sợ một cách không đúng đắn vì trong gần suốt thời gian đó, Trung cộng đang hết sức bận rộn với những vấn đề nội bộ của họ – kể cả những mưu kế của đám “Hồng vệ binh” – và sau đó hai nước cộng sản đó lại phải chú tâm đến sự xung đột dọc đường biên giới chung của họ, trong đó Liên Xô đã tập trung một số lớn quân để đe dọa. Các nhà vạch chính sách ở các bộ ngoại giao và quốc phòng lại không thể hình dung nổi thái độ cứng rắn và ngoan cố của cộng sản Bắc Việt Nam. Tất nhiên họ sẽ không chùn bước trước mối đe dọa hoặc sự tham chiến tượng trưng của một cường quốc lớn nhất thế giới, chẳng hạn như người Nga đã chùn bước trong vấn đề Berlin và Cuba.

Chính sách của tổng thống Johnson vừa có súng vừa có bơ, theo đuổi chương trình “xã hội vĩ đại”, cũng đã có một. ảnh hưởng mạnh. Nó đã hạn chế thêm các phương án chiến lược của tổng thống và ngõ hầu như đã định trước một loại chiến tranh lâu dài mà các chế độ dân chủ không được chuẩn bị tốt để chịu đựng. Lúc tổng thống và chính phủ của ông đã không nói hết được với nhân dân Mỹ về quy mô và tính chất của sự hy sinh sẽ phải có thì tức là họ đã góp phần tạo ra một lỗ hổng về niềm tin để rồi phát triển thành một vực sâu không thể nào vượt qua được. Một chủ trương làm cho chiến tranh có bóng dáng mờ nhạt đi có nghĩa là chỉ có một số người phải chịu hy sinh và lại căm ghét nó vì lương tâm của họ cắn rứt. Nếu một cuộc chiến tranh là đáng phải bắt buộc các quân chủng hy sinh và chăm lo hết mình thì cũng đáng phải bắt buộc toàn thể nhân dân tham gia.

Tổng thống Johnson cũng đã sai lầm khi dựa vào quyết định về sự kiện vịnh Bắc Bộ để coi đó là quyền hành của mình đã được Quốc hội cho phép để làm những cái ông thấy cần thiết ở Đông Nam Á. Lúc xảy ra tình hình bất đồng năm 1966 và 1967, đáng lẽ ông phải quay lại yêu cầu Quốc hội khẳng định lại sự cam kết đối với Nam Việt Nam, yêu cầu bỏ phiếu tín nhiệm hoặc bác bỏ theo cách làm của chế độ đại nghị của Anh và của các nước khác. Căn cứ vào chế độ bầu cử Quốc hột Mỹ cứ 2 năm thực hiện một lần, một cuộc chiến tranh không tuyên bố kéo dài nhất thiết sẽ trở thành một vấn đề chính trị. Tổng thống Johnson với cái tài nhận thức chính trị thường thường là rất khôn ngoan của mình lẽ ra phải dự kiến việc này và phải buộc Quốc hội nhìn thẳng vào trách nhiệm của họ theo hiến pháp và tiến hành chiến tranh.

Do không làm cho nhân dân am hiểu và do không bắt buộc Quốc hội tự mình cam kết vào đó, tổng thống đã để cho dư luận công chúng.

trở thành một món nợ nặng nề. Không giống như Kennedy, Johnson không có được cái hoàn cảnh hoặc cái phong cách lôi kéo dư luận công chúng về phía mình và ông đã trở thành tù nhân của dư luận. Nếu ông từ chối thương lượng khi ông biết rằng cộng sản không hề có ý định thương lượng thật sự trừ phi thương lượng theo những điều kiện của họ, dưới con mắt nhiều người Mỹ, ông tỏ ra là một người muốn tiếp tục chiến tranh mặc dù cách khẳng định này có thể là rất phi lý trước những tiếng la ó gay gắt của báo chí, trước lời chỉ trích của các nghị sĩ, và những hành động hung dữ của những người biểu tình, ông đã ngừng ném bom dù ông biết rằng việc đó sẽ không chấm dứt được chiến tranh mà rất có thể kéo dài chiến tranh. Là một chính khách rất nhạy cảm và có lương tâm, tổng thống Johnson đã làm hết sức mình, có lẽ đây là một tình thế vượt ra ngoài tài cán của bất kỳ người nào.

Bằng những cố gắng nhằm giảm bớt những tiếng la ó phản đối của dư luận, các nhà cầm quyền ở Washington thường xuyên cho thế giới, kể cả địch, biết rằng thông qua các cuộc họp báo không ghi âm hoặc những vụ tiết lộ với những giới báo chí tin cậy những việc chúng ta sẽ làm hoặc sẽ không làm về mặt quân sự và một số nhà báo thấy đó là chuyện bí mật bèn tiết lộ ra. Cả hai cách làm này đã tước bỏ mất của chúng ta những cái lợi thế của sự linh hoạt, yếu tố bất ngờ và gây cho chúng ta những tâm trạng thất vọng về mặt chiến lược. Nó cũng tạo ra cho kẻ địch có thời gian phản ứng và trong nhiều dịp đem lại cho địch niềm hy vọng nếu không thì tinh thần của địch có thể bị giảm sút.

Những kẻ chủ xướng những giải pháp giản đơn thật ,là nhầm lẫn biết bao. Một sổ người kêu gào gạt bỏ Ngô Đình Diệm, thế nhưng việc

làm này đã đem bối cảnh rối ren chính trị gây tác hại nghiêm trọng đến việc tiến hành chuẩn bị cuộc chiến tranh và trực tiếp dẫn tới sự cần thiết phải đem quân Mỹ vào nếu không Nam Việt Nam sẽ sụp đổ. Có những người cứ yên chí rằng các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam sẽ thương lượng nghiêm chỉnh cho dù Mỹ đã hủy bỏ mọi yếu tố thúc ép họ thương lượng. Lối trông chờ ở những hành động “kiểu dùng để đi” ở một trò ảo thuật nào đó là trái với lịch sử, trái với mọi logic. Khi người ta nhìn lại thì thấy những lời kêu gào thương lượng đó thật là rỗng tếch biết bao. Thế nhưng, cho đểu khi đã đi đến một sự kết thúc nhục nhã rồi vẫn còn những tiếng kêu gào thươước ta quy định là dân sự kiểm soát quân sự.

Là nhân dân mong muốn hòa bình, anh ta phải sẵn sàng ứng,phó với những gian khổ của chiến tranh và cam chịu những vết sẹo của chien tranh. Hết

Chào Vĩnh Biệt Đại Tướng Westmoreland

http://www.vlink.com/nlvnch/vinhbiet_westmoreland.html Jimmy Tòng Nguyễn *

Ngày 18 tháng 7 năm 2005, qua hệ thống truyền thông Hoa Kỳ, chúng tôi đã nhận được hung tin Cựu Đại Tướng William Childs Westmoreland, Cựu Tổng Tư Lệnh Quân Lực Đồng Minh tại Việt Nam đã qua đời vì tuổi già tại tiểu bang South Carolina, hưởng thọ 91 tuổi.

Đại Tướng Westmoreland được bổ nhiệm đến Việt Nam trong chức vụ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Đồng Minh vào giữa thập niên 60 trong lúc tình hình chiến cuộc Việt Nam đang trong thời kỳ sôi bỏng nhất. Ông đã thực hiện những quyết định mạnh mẽ vào thời gian đó để cố gắng giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng quân sự trong giai đoạn ngắn. Tuy nhiên, những nỗ lực của ông đã bị ngăn cản bởi những quyết định chính trị từ Washington D.C. Sau cùng, ông đã được thuyên chuyển ra khỏi Việt Nam về Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Hoa Kỳ với chức vụ cuối cùng là Tham Mưu Trưởng Lục Quân trước ngày giải ngũ.

Nhận định về cuộc chiến tại Việt Nam, Đại Tướng Westmoreland vẫn luôn khẳng định là, “Chúng ta không thua tại Việt Nam, nhưng chúng ta đã không giữ đúng lời cam kết đối với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.”

Nhân Lễ Kỷ Niệm Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại New Orleans, Louisiana vào năm 1987; đứng trước một cử tọa gồm hàng ngàn cựu quân nhân Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, Đại Tướng Westmoreland đã tuyên bố nguyên văn, “Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của Quân Lực Miền Nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn.” (On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys.) Cả hội trường

New Orleans Convention Center gồm hàng ngàn cựu quân nhân Việt­Mỹ và gia đình đã ôm choàng lấy nhau mắt lệ nghẹn ngào vì lời xin lỗi đầy tình huynh đệ chi binh của Đại Tướng Westmoreland. Ngay lúc đó từ hàng ghế danh dự, chúng tôi đã bước ngay đến vị trí của diễn đàn, đứng trong thế nghiêm, chào tay để cám ơn Đại Tướng Westmoreland, một vị tướng lãnh đạo đức và là một người bạn đồng minh khả kính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho đến giờ lâm chung.

Mùa hè năm 1987, chúng tôi đã được vinh dự đón nhận trọng trách của Tổng Hội Cựu Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại để đảm nhận chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Tổ Chức Lễ Kỷ Niệm Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại thành phố New Orleans, Louisiana. Chúng tôi đã đạt thư mời Đại Tướng và Bà Westmoreland cùng nhiều tướng lãnh Việt-Mỹ khác về tham dự buổi lễ. Nhiều tướng lãnh Việt-Mỹ đã nhận lời tham dự, ngược lại một số cựu tướng lãnh V.N.C.H. khác đã viện nhiều lý do khác nhau từ chối không tham dự. Sự hiện diện của Đại Tướng Westmoreland đối với Lễ Kỷ Niệm Ngày Quân Lực V.N.C.H. năm 1987 đã nói lên sự ngưỡng mộ của cá nhân ông đối với tinh thần chiến đấu anh dũng của quân lực V.N.C.H. trong suốt cuộc chiến. Trong những cuộc mạn đàm thân mật với Đại Tướng và Bà Westmoreland sau đó, Đại Tướng đã bày tỏ sự bất đồng về đường lối chánh trị của Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ; đồng thời ông cũng bùi ngùi nhắc đến thời gian phục vụ của ông tại Việt Nam, những người bạn đồng minh còn lại tại Sài Gòn, cũng như sự bức tử Việt Nam Cộng Hòa vào tháng Tư năm 1975.

Vào giữa thập niên 90 qua lời mời của một hệ thống truyền hình Hoa Kỳ để đến Hà Nội tham dự một cuộc đàm thoại trực tiếp truyền hình cùng với Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert McNamara và hai cựu tướng lãnh Cộng sản Việt Nam Võ Nguyên Giáp và Văn Tiến Dũng, Đại Tướng Westmoreland đã mạnh mẽ bác bỏ lời mời này. Một trong những lý do là vì Đại Tướng Westmoreland không muốn làm buồn lòng những người bạn Việt Nam Cộng Hòa.

Chúng tôi rất xúc động vì sự ra đi đột ngột của Đại Tướng William Childs Westmoreland. Được vinh dự tiếp xúc nhiều lần với Đại Tướng và Bà “Kitsy” Westmoreland sau năm 1975, tôi rất khâm phục khí phách và cá tánh trung thành của Đại Tướng. Đại Tướng Westmoreland rất cởi mở và thành thật. Nhân dịp sinh nhật 80 tuổi của Đại Tướng vào năm 1994, chúng tôi cùng một số anh em cựu quân nhân Q.L.V.N.C.H. được vinh dự tham dự lễ sinh nhật của Đại Tướng Westmoreland và tái ngộ với ông tại Long Beach, California. Đại Tướng Westmoreland đã lộ vẻ hớn hở ra mặt mỗi khi có dịp tiếp xúc với anh em cựu quân nhân

Việt Nam Cộng Hòa.

Theo tin tức từ gia đình Đại Tướng Westmoreland, chúng tôi được biết là tang lễ của Đại Tướng sẽ được cử hành vào ngày Thứ Hai 25 tháng 7 năm 2005 tại trường Đại Học Quân Sự West Point, nơi mà Đại Tướng đã tốt nghiệp sĩ quan và khởi sự đời binh nghiệp. Linh cửu của Đại Tướng Westmoreland sẽ được mai táng theo lễ nghi quân cách trong khuôn viên trường Đại Học Quân Sự West Point bên cạnh những danh tướng khác của Hoa Kỳ như Cố Thống Tướng MacArthur, Cố Đại Tướng Patton, v.v…

Một cuộc chiến đã tàn, một đời binh nghiệp đã qua đi, một trang sử được lật qua với bao nhiêu kỷ niệm thời chiến tranh và hậu chiến Việt Nam với Cố Đại Tướng William Childs Westmoreland. Việt Nam Cộng Hòa đã mất đi một người bạn đồng hành, một chiến sĩ tự do và một đồng minh trung thành đáng mến.

Chúng tôi xin thành kính nghiêng mình trước sự ra đi đau buồn của Đại Tướng William Childs Westmoreland. Nguyện xin cho linh hồn Đại Tướng được yên nghỉ cùng những chiến hữu tự do đã ra đi trước ông và ước mong rằng cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ không bao giờ quên một người bạn trung kiên, một cựu tướng lãnh chỉ huy can trường trước mọi áp lực chính trị, một chiến sĩ tự do vẫn luôn đứng về phía chính nghĩa Việt Nam Cộng Hòa như Cố Đại Tướng William Childs Westmoreland.

Xin chào vĩnh biệt Đại Tướng.

*Chú Thích: Trích từ Việt Báo ngày thú năm 7/21/05. Good bye General Westmoreland

According to the press on July 18th, 2005, General Williams Childs Westmoreland, Former Commanding General of Allied Forces in Vietnam has passed away in natural cause, in South Carolina, at the age 91.

During the critical situation of the war in Vietnam, General Westmoreland has been assigned to a position of Commanding General of Allied Forces. At that time with a great effort, he had a strong decision to solve the war within a short period. Somehow, his plans have been blocked by a political decision from Washington, D.C. Later on, he has been transferred back to the States with his last position as Chief of Joint General Chief of Staff before he retired.

For his point of view about the Vietnam War, General Westmoreland always said: “We are not losing in Vietnam, but we never kept our promises with our ally, the Army Republic of Vietnam.”

During the celebration to memorize the ARVN’s day in New Orleans in 1987, he said upfront of thousand American and Vietnamese veterans: “On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys”. Thousand South Vietnamese and American veterans were crying of his sincere apologize in the Auditorium Convention Center. During the ceremony we gave him a full military salutation to appreciate and give high respect to a former General who was a former ally of the ARVN until its last minute.

Text Box:  Summer 1987, represented the Association of the former ARVN’s Soldiers overseas, we organized the Day in New Orleans, in the remembrance of ARVN. We invited the honorable lady Westmoreland and the General, and a number of Vietnamese and American generals. Some of them have accepted the invitation, and some of them could not join us. The presence of General Westmoreland during the ceremony has been cited as his admiration to the Spirit of Fighting of ARVN Forces during the war. From the friendly conversation with him and his lovely wife, General Westmoreland has also expressed about his opposition to the Political Strategy of the American Government. He also expressed deep emotions about the death in South Vietnam in April 1975 with a high emotional. He reminisced the old time during his service in Vietnam.

In the mid of 1990, he strongly rejected the invite from an American TV corporate to come to Vietnam to discuss about the Vietnam War with the former Defense Secretary Robert McNamara and two former Communist Generals whom are Vo Nguyen Giap and Van Tien Dung. The main reason was General Westmoreland did not want to betray his former alley.

We are very sorry of the loss of the General. We met a number of times with General and Mrs. “Kristy”. We always respect his

personality, his loyalty and his morality. General Westmoreland was a sincere and open mind person. We were privileged to attend to his 80th birthday in 1994, and to meet him again at Long Beach, California, General Westmoreland was always excited to meet with the former ARVN’s soldiers.

Based on the family wish, the funeral of General Westmoreland will be held with a full military ceremony on Monday the 25th of July, 2005 at West Point Military Academy, the place where he started his military career, and will lay rest in peace in the same place next to some famous American Generals as Formal Marshall Mac Arthur, former General Patton, etc.

For him the war was over, a career has gone, and another page of history has turn over with a lot of souvenirs of the past or after the war time. The Republic of Vietnam has lost a good companion, a free warrior, and a loyal ally.

We were so sorry for the loss of General Williams Child Westmoreland. May God bless his soul, and rest in peace with others free warriors who left before. We expect that the Vietnamese Community of Overseas will never forget our loyal friend, a courageous soldier never been afraid of any political pressures, although a warrior of the free world always stays side by side with the Republic of Vietnam.

Translated by Trung Pham

Tóm lược các nhận định của Đại Tướng Westmoreland  trong Cuộc Chiến Việt Nam:

1-”Chúng ta không thua tại Việt Nam, nhưng chúng ta đã không giữ đúng lời cam kết đối với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.”

2-”Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của Quân Lực Miền Nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn.” (On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys.)

3- “Thế nhưng lịch sử rất có thể đánh giá rằng nhảy vào Việt Nam là một trong những sai lầm lớn nhất của đất nước chúng ta. Mặt khác lịch sử cũng có thể đánh giá được rằng sự giúp đỡ của Mỹ cho Nam Việt Nam là một trong những cuộc thập tự chinh cao cả hơn hết của con người.”

4-“Tôi hy vọng là chúng ta dù sao cũng không trói tay người Nam Việt Nam khiến họ không được có những hành động

thích đáng để đảm bảo an ninh cho nhân dân Nam Việt Nam.” Theo ý kiến tôi, nước Mỹ đã ký một hiệp định quốc tế long trọng có liên quan đến vận mệnh của nước khác và khi làm như vậy là đã có một nghĩa vụ tinh thần rõ ràng phải đảm bảo cho hiệp định đó được thi hành.”( Có nghĩa là Hoa Kỳ phải có trách nhiệm không được bỏ rơi đồng minh VNCH)

www.bbc.com/vietnamese/vietnam-57801199

Người dân trong các khu phong tỏa ở TP HCM kêu cứu – BBC News Tiếng Việt

Nhiều người dân lên tiếng kêu cứu giữa lúc TP HCM thực hiện đợt cách ly nghiêm ngặt kéo dài hai tuần.
— Read on www.bbc.com/vietnamese/vietnam-57801199

Năm Tân Mão 2011 năm cáo chung của các quốc gia độc tài?

Năm Tân Mão 2011 năm cáo chung của các quốc gia độc tài?

 

Sự kiện xảy ra ngày 17 tháng 12 năm 2010 tại Tunisia (Một xứ nhỏ thuộc Khối Á Rập ven Điạ Trung Hải ,  cựu thuộc điạ của Pháp , được Độc Lập từ  năm 1956 )một sinh viên  tốt nghiệp đại học tên  là Mohamed Bouazizi bị thất nghiệp nên phải đi bán trái cây dạo, bị Cảnh sát bắt đòi hối lộ, anh nầy phẫn uất tự thiêu và sau đó chết ngày 4 tháng 1.2011.[i]

Bối cảnh xã hội Tunisia bao trùm bởi nạn tham nhũng và độc tài, sự căm hận của 10 triệu người dân Tunisia đã bùng nổ sau thời gian âm ỉ từ 23 năm cầm quyền độc tài của Tổng Thống Zine El  A. Ben Ali và bộ hạ.

Tìm hiểu tại sao với một sự việc nhỏ nhặt lại dẩn đến sự sụp đổ cả một chế độ được cai trị độc tài suốt 23 năm bởi một chính phủ sắt máu, có một nền kinh tế khá vững mạnh. Mà sự sụp đổ nhanh chóng trong vòng 1 tháng cả một chế độ tham nhũng, độc tài, quân phiệt là một sự kiện ngạc nhiên, phấn khích cho cả khối Á Rập và còn gây hiệu ứng Domino (dây chuyền) cho các quốc gia toàn trị, độc tài trên  thế giới.

  Hình ảnh thành công của Tunisia đầu năm 2011 đã làm nức lòng các quốc gia lân cận và sau đó đã lan truyền đến Ai Cập, Sudan, Yemen, Libya và nhiều quốc gia Bắc Phi và Trung Đông. Chẳng những ảnh hưởng Cách Mạnh Hoa Lài lan truyền trong khu vực Bắc Phi và Trung Đông mà hương Hoa Lài còn lan truyền đến nhiều quốc gia Đông Nam Á trong đó có cả Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia vốn nỗi tiếng cai trị độc tài và tàn bạo.

Sau hai vụ Cách Mạng thành công tại Tunisia và Ai Cập, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam và Trung Cộng ra sức dập tắt các phong trào đòi hỏi Dân Chủ trong nước, đồng thời bôi bẩn, đe doạ người dân trong nước về sự “Bất An” sau Cách Mạng.

Cách Mạng Libya chống tên độc tài Gaddafi[ii] và tập đoàn tham nhũng diển ra không suông sẻ như tại Tunisia và Ai Cập mà mang nhiều kịch tính. Đầu tiên là cuộc Nỗi dây ở Libya [iii] là các cuộc biểu tình chống chính phủ bắt đầu từ ngày 15 tháng 2 năm 2011. Các phương tiện truyền thông như New York Times, BBC News… loan báo tình trạng bất ổn này bắt nguồn từ những sự kiện ở các nước láng giềng Ai CậpTunisia, góp phần vào một loạt các cuộc biểu tình tại thế giới Ả Rập.

Người biểu tình đã tập trung quanh hai thành phố lớn nhất của Libya là thủ đô Tripoli ở phía tây và Benghazi ở phía đông. Ngày 18 tháng 2, những người tham gia biểu tình đã kiểm soát được hầu hết thành phố lớn thứ hai của Lybya là Benghazi, với một số hỗ trợ từ cảnh sát và các đơn vị quân đội đào ngũ. Chính phủ đã phản ứng lại bằng cách gửi đến đây các đơn vị quân đội tinh nhuệ và lính đánh thuê nhưng đã bị người dân ở Benghazi và các đơn vị quân đội đảo ngũ chống lại. Cho đến ngày 20 tháng 2, hơn 200 người đã bị chết ở Benghazi. Những người biểu tình ở Tripoli tập trung xung quanh quảng trường Green Square. Ngày 21 tháng 2, máy bay chiến đấu của không quân Libya đã tấn công vào nhóm người biểu tình tại Tripoli gây ra làn sóng phản đối mạnh mẽ trong công luận quốc tế. The New York Times đưa tin “vụ đàn áp ở Libya đã chứng minh sự đẫm máu nhất của các hành động gần đây của chính phủ.”

Cho đến ngày 23 tháng 2 2011, đa số thị trấn và thành phố đã thuộc về quyền kiểm soát của phe đối lập Libya.

 Chính quyền ông Gaddafi chỉ  còn kiểm soát thủ đô Tripoli và một số thành phố ở phía Tây. Thời điểm đó, Hoa Kỳ và nhiều nước Phương Tây quá dè dặt không muốn can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia Á Rập, thái độ dè dặt nầy của Phương Tây đã làm cho phe Gaddafi hồi sinh và từ từ họ dành thế chủ động, tái chiếm các thành phố đã bị phe nổi dậy chiếm giử. Kiêu căng trên đà chiến thắng và với bản tính hung ác Gaddafi rơi vào tội ác chống người dân Libya qua các hành động ném bom và sử dụng pháo binh tấn công các thành phố đông dân. Thay vì áp dụng chính sách an dân, sửa sai các luật lệ lỗi thời để kêu gọi phe nổi dậy chung vai tái thiết đất nước , tái lập trật tự thì Gaddafi đã dùng bạo lực bắn giét người dân Libya một cách tàn bạo: trên 300 thường dân Libya bị sát hại và hàng ngàn bị thương do quân đội của phe độc tài gây ra.

Từ các sự việc tàn sát đẩm máu của độc tài Gaddafi kể  trên, các quốc gia thuộc khối Á Rập đã thay đổi lập trường, họ  kêu gọi Liên Hiệp Quốc can thiệp tránh đổ máu dân vô tội. Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc hôm thứ Năm 17 tháng 3.2011 thông qua một nghị quyết sau cuộc biểu quyết , có 10 phiếu thuận và không có phiếu chống,  5 quốc gia bỏ phiếu trắng cho phép thiết lập một vùng cấm bay ở Libya để bảo vệ cho thường dân trước sự trấn áp của quân đội trung thành với ông Gadhafi.  

Ngày 18 và 19tháng 3 lực lượng quốc tế bao gồm Anh, Pháp,  Mỹ và nhiều quốc gia  Âu Châu đã trực tiếp hoặc gián tiếp thi hành quyết nghị của LHQ[iv] bắn hỏa tiển và oanh kích các vị trí quân sự nhằm ngăn chận bàn tay đẩm máu của Gaddfi và đồng bọn. Sự vui mừng chào đón lực lượng LHQ của toàn dân Libya đã nói lên sự cai trị độc tài của Gaddafi đã “chấm hết” dù tình hình chiến sự vẫn còn đang tiếp diển mà áp lực của phía Quốc Tế ngày càng đè nặng lên chế độ độc tài Gaddafi. Bàn cờ Libya dù chưa ngả ngủ nhưng đã cho chúng ta thấy: các chế độ độc tài sắt máu đối xử thô bạo, tàn ác của nhà cầm quyền Libya và ngay cả Việt Nam hiện nay phải đi đến cáo chung. CSVN đã mừng hụt, cho rằng thế giới đã bỏ rơi Libya[v]. Màn kịch đã chuyển từ ngày khởi đầu, từ thắng lợi rồi bị đàn áp, rồi đến quốc tế tham gia và quật khởi, vùng lên xoá tan bọn độc tài, diển tiến y hệt một vỡ kịch.

 Vấn đề đặt ra cần lưu tâm là chính sự kiên trì của người dân Libya, sự chống trả liên tục trước bạo quyền dù bị thiệt hại về nhân mạng đã đánh động lương tâm thế giới. Sự tàn ác dả man của Gaddafi cũng là yếu tố kích động tiến trình trực tiếp can thiệp của Liên Hiệp Quốc. Thiếu một trong hai yếu tố đó thì Cách Mạng  sẽ không thành công, đồng thời phải thấy “Lòng Dân”[vi] là yếu tố quan trọng hơn cả, bởi vì một khi “lòng dân muốn gì” được thấu đạt, thì mức độ tham gia của toàn dân sẽ bộc phát không thế lực nào ngăn cản nỗi. Kế đến là sự kiên trì không lùi bước của toàn dân sẽ làm cho phiá địch(tức phe độc tài) sẽ chùn bước và quốc tế sẽ trực tiếp tham gia sớm hay muộn.

Tại Việt Nam thì tình hình có nhiều biến dạng không giống như Tunisia, Libya. Tập đoàn Việt Gian Cộng Sản có mặt trên đất nước trên 80 năm (từ 1930-2011), sự lừa dối nhiều thế hệ của chúng đã rất tinh vi, kỷ thuật trấn áp dân học được từ quan thầy Nga Sô và Trung Cộng cũng rất cao, CSVN lại áp dụng biện pháp kềm kẹp “quân đội nhân dân” và “công an nhân dân” vô cùng chặc chẻ, với khẩu hiệu tuyên truyền “Còn đảng, còn mình” do đó chúng ta phải làm sao tranh thủ được hay cài được người trong Quân Uỷ Trung Ương, trong các Binh Đoàn, các tướng lãnh v.v… thì sẽ trấn áp được bên Công An để làm nhẹ thiệt hại cho toàn dân.

 Trong Cách Mạng Tunisia và Ai Cập nhờ dành được cảm tình của Quân Đội ngay từ phút đầu nên rất ít thiệt hại về nhân mạng.Tên độc tài Gaddafi  dùng lính đánh thuê, khó mua chuộc, nên dân Libya bị thiệt hại nhiều hơn. Điều cốt lỏi trong cuộc Cách Mạng tương lai cho Việt Nam là phải làm sao huy động sức mạnh tổng hợp của “Toàn Dân” là sẽ thành công.

Các thành phần Nông Dân, Công Nhân, Dân Oan, các Tôn Giáo bị áp bức chiếm trên 90% dân chúng, đó là lực lượng nòng cốt của Cách Mạng. Ai tranh thủ được “Lòng Dân” của các thành phần nêu trên là sẽ thắng. Nếu chúng ta không kiên trì vận động, bỏ quên “lòng dân” mà chạy theo các nhân tố khác thì sẽ bị thất bại cho dù có được sự hổ trợ mạnh mẽ của Liện Hiệp Quốc.

Long Điền 3.20.2011

Chú thích:


[ii] http://web247.fastserver.ch/vnch/?p=5074 Libya: Cách Mạng chống nhà cầm quyền độc tài Gaddafi

[iv] http://www.voanews.com/vietnamese/news/obama-libya-upd-3-19-11-118304029.html TT Obama: Hành động quân sự là để đáp ứng kêu gọi của nhân dân Libya. Tổng thống Obama nói ông đã ra lệnh cho quân đội thực hiện một hành động quân sự có giới hạn để bảo vệ nhân dân Libya và thực thi nghị quyết của Liên Hiệp Quốc.

[vi] http://aotrangoi.com/2011/03/05/co-hoi-bang-vang/ Cơ hội bằng vàng bài của Long Điền.

 

 

Hello world!

Welcome to WordPress.com. This is your first post. Edit or delete it and start blogging!